|
Chèo sân Đình
Theo sử sách cũ cho biết thì từ thời Lý, hát chèo ở Thăng Long đã rất phát triển, trong các ngày tết, ngày lễ lớn, trong các cuộc vui ở kinh thành, đều không thể thiếu phường chèo.
Đặc biệt các tầng lớp vua, quan, quí tộc cũng rất ưa thích hát chèo. Như Việt sử thông giám cương mục miêu tả, thì nhiều khi lễ sinh nhật của các vua Lý cũng được tổ chức thành ngày hội lớn ở kinh thành Thăng Long, mà trong đó bao giờ cũng có phường chèo, phường hát, kèn sáo, múa hát tưng bừng. Như sách An Nam chí lược ghi chép về cảnh sinh hoạt văn hóa, văn nghệ nhộn nhịp trong cung vua Trần, nhân dịp Tết Nguyên đán, cũng cho biết, trước Tết, vào ngày “tất niên” (hết năm), vua Trần ra ngự ở cửa Đoan Cung để bách quan lạy mừng, hôm ấy các phường chèo, phường hát cũng tới diễn mừng vua ở đấy. Từ Đạo Hạnh ở thời Lý, Trần Nhật Duật ở thời Trần đều là những nhân vật ham mê hát chèo. Từ Đạo Hạnh còn là tác giả của bài “Giáo trò” quen thuộc mà các phường chèo Thăng Long - Hà Nội và nhiều nơi khác còn lưu truyền. Vào thời Lý - Trần mà các phường chèo đã phổ biến ở kinh thành Thăng Long như vậy, thì chắc chắn nghệ thuật chèo đã nảy sinh và phát triển từ trước thời Lý khá lâu. Có điều, sử sách cũ khi ghi chép về nghệ thuật chèo thời kỳ này chỉ thấy nói đến hát chèo, chớ không thấy nói đến tích chèo nào cụ thể được trình diễn tại Thăng Long. Mãi đến thời Lê, khi chèo tiếp thu nhiều làn điệu ca múa dân gian của đồng bằng Bắc Bộ, cùng với các tích truyện Nôm dân gian khá phổ biến ở phố phường Kẻ Chợ, thì chèo mới có những vở diễn, những tích trò sân khấu cụ thể như Thạch Sanh, Quan âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Phạm Công Cúc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa . . . Đồng thời, trên cơ sở các tích truyện dân gian, chèo cũng sáng tác thêm những tích trò mới như Kim Nham (thường diễn trích đoạn Vân Dại), Trương Viên, Chu Mãi Thần (thường diễn trích đoạn Tuần Ti đào Huế), Trinh Nguyên . . .
Từ đây, cũng giống như hát cửa đình, chèo cũng thường diễn ở sân đình trong các dịp hội hè, và chèo sân đình đậm đà chất dân gian đã trở thành món ăn tinh thần vô cùng hấp dẫn của người nông dân và người thợ thủ công, trong những lúc nông nhàn:
Ăn no rồi lại nằm khoèo .
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem.
Từ thế kỷ XVII, XVIII, chèo sân đình đã phát triển rộng khắp đồng bằng Bắc Bộ. Chèo ven đô Thăng Long đã tiếp thu mọi tinh hoa của các phường chèo địa phương khác, thu hút nhiều nghệ nhân và diễn viên có tài để sớm thành lập những gánh chèo nửa chuyên nghiệp đi biểu diễn lưu động.
Tới đầu thế kỷ XX, ở nội thành đã có những gánh chèo chuyên nghiệp luân phiên nhau biểu diễn trong các rạp Sán Nhiên Đàn, Phúc Thắng, trong khi tuồng chiếm độc quyền khán giả tại rạp Quảng Lạc. Từ chỗ không có sân khấu phông cảnh trang trí, chèo sân đình đã phải chia màn lớp, có trang trí đạo cụ, chuyển thành chèo văn minh và cũng là bước đầu chèo cổ dân gian bị phân hóa với sự thay đổi tổ chức sân khấu. Để cạnh tranh với tuồng (lúc đó cũng bị phân hóa theo thị hiếu thị dân), từ một sân khấu giữa trời, xem cả ba mặt, chèo văn minh biểu diễn đối diện với khán giả, không còn diễn dược nguyên vẹn những vở truyền thống, mà phải thêm nhân vật tướng võ. Lúc đó, làn điệu chèo pha trộn lẫn làn điệu tuồng mỗi khi có tướng võ xuất hiện trên sân khấu cùng với những động tác tuồng. Chèo văn minh là một hình thức sân khấu có nội dung, diễn xuất, ca nhạc và múa pha trộn cả tuồng lẫn chèo, phá hết phong cách chèo sân đình. Đó là trong những năm 1913 - 1925 tại Hà Nội, diễn viên chèo bắt buộc phải biết diễn và hát thạo cả tuồng để kiếm sống. Người có công trong việc loại trừ những yếu tố “ngoại lai” của chèo văn minh và đưa chèo cổ tiến một bước, cải biên nâng cao mới mà vẫn giữ được những đặc tính cũ là Nguyễn Đình Nghị, một nhà soạn vở kiêm nghệ nhân chèo.
Chèo cải lương (1925) ra đời tại rạp Sán Nhiên Đài ở phố Đào Duy Từ với sự cải biên các vở truyền thống cũ và những vở mới sáng tác của Nguyễn Đình Nghi. Vì phải chiều theo một phần nào thị hiếu đương thời, càng ngày càng phức tạp của khán giả thị dân “Hà thành hoa lệ”, một số nhân vật mới đương thời đã xuất hiện trên sân khấu chèo cải lương bên cạnh những nhân vật điển hình xưa. Sau những Thị Kính, Thị Mầu, Xúy Vân, Trương Viên, Lưu Bình, Dương Lễ. . . và các nhân vật hề môi, hề gậy. . . của thời trước, cả một xã hội Hà thành đương thời xuất hiện với các vai cô thông, dì phán, thầy ký, lính tập, me tây, đội xếp v.v. trong một hệ thống vở diễn liên hồi “Năm trận cười”. Những vở tiêu biểu được công chúng Hà thành hâm mộ là Ông đồ cổ, Khôn có giống, Đáng đời cô ả, Tam đại dở hơi, Mượn hơi men, Chữa bệnh ghen. Qua những vở này, tác giả nhằm phê phán, đả kích các thói hư, tật xấu của xã hội cũ đang phổ biến ở Hà Nội đương thời. Lúc đó cũng đã thấy bóng dáng mơ hồ của cán bộ cách mạng trong các vai thầy giáo to nhỏ bí mật trong các “hội kín”… nhưng cũng có cả những vai đức bà Ma-ri-a, ông Giê-su trong vở Thiên Chúa giáng sinh và các thánh trong vở A-lê-xu… Đáng chú ý là Nguyễn Đình Nghị đã soạn một số vở chèo lịch sử có tác dụng giáo dục tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc như các vở Đại Nam nữ hiệp (kể lại sự tích con dâu vợ ba Cai Vàng), Cưỡi đầu voi dữ (sự tích Bà Triệu), và một số vở dựa theo tích truyện Nôm . . .
Chèo cải lương mô tả xã hội đương thời đảo điên, mượn nhân vật say, một loại hề chèo mới, để đả kích phê phán xã hội đó. Dưới thời Pháp thuộc, chèo đã mang yếu tố phản kháng đấu tranh, tất nhiên không tránh khỏi còn tồn tại một số yếu tố tiêu cực. Về phương diện âm nhạc (ca hát và làn điệu), chèo cải lương đã đưa nhiều làn điệu dân gian vào sân khấu, nhưng chưa “chèo hóa”, còn để nguyên si như các điệu sa mạc, bồng mạc, trống quân, cò lả, lý giao duyên. . .
Nhiều bản nhạc cổ cũng được viết lời ca cho các nhân vật hát như Lưu Thủy, Hành Vân… Nhưng đáng tiếc là cũng phải theo thị hiếu thị dân tầm thường đương thời (kể cả trong cải lương, tuồng). Trong chèo cải lương cũng đôi khi phổ lời ta vào để hát các điệu Tây rất quen thuộc bấy giờ như ma-đơ-lông (madelon), vin đa-mua (ville d& # 39;amour) v.v. Về múa, cũng bị tước bỏ khá nhiều, nhất là đối với những nhân vật mới, chưa tìm được lối thoát khi phải diễn những nhân vật đương thời diễn xuất ngả nhiều sang kịch nói, tuy cách nói vẫn theo lối chèo. Nhưng trước sự tấn công của điện ảnh và nhất là của phong trào cải lương, tuồng Tầu, tuồng Quảng độc quyền trong hai rạp Tố Như (Chuông Vàng hiện nay) và rạp Quảng Lạc, cũng cùng số phận như tuồng Bắc, từ những năm 1940 – 1945, chèo cải lương hoạt động yếu ớt bị mất khán giả thị dân và dần dần phải rút khỏi phố phường Hà Nội, đi lưu động tại các tỉnh lẻ và tại các vùng ven nội. Trong khi đồ chèo sân đình vẫn chiếm được vị trí ở các đình làng ngoại thành nhất là trong các dịp hội mùa. Sau Cách mạng tháng Tám, hát chèo được phục hồi, gánh chèo Nguyễn Đình Nghị lại tiếp tục hoạt động tại rạp Kim Lan. Chèo đã được nâng cao, cải biên, với nội dung hiện đại, hình thức cũng có phần đổi mới theo nội dung, và đặc biệt, được phát triển rộng rãi từ sau ngày giải phóng Thủ đô (1954).
Theo Báo ảnh Việt Nam
|