TÌM KIẾM TOUR
Tìm kiếm nâng cao
ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH TỈNH
Home
Thông tin du lịch
1000 năm Thăng Long
Các đường phố Hà Nội

Đường Phố Hà Nội theo vần "N"

 

Đường Phố Hà Nội theo vần "N"

 

Nam Cao
Phố: dài hơn 200m; từ phố Núi Trúc đến phố Trần Huy Liệu, qua trước trường Trung học phổ thông Hà Nội Amxtécđam. Đất trại Vạn Bảo, Liễu Giai, tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Kim Mã, quận Ba Đình. Tên mới đặt năm 1995.
Nam Cao (1914 -1951): tên thật là Trần Hữu Tri, người làng Đại Hoàng, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; nhà văn hiện thực Việt Nam. Làm văn, viết báo từ năm 1936, tham gia Văn hoá cứu quốc và gia nhập Việt Minh năm 1941; đi Nam tiến 1946 rồi lên chiến khu Việt Bắc làm báo. Hy sinh trên đường vào công tác ở vùng địch Hậu khu III. Tác giả nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng: Chí Phèo, Sống mòn, Đôi mắt, Chuyện biên giới...

Nam Dư
Phố: 1,25km; từ số 595 đường Lĩnh Nam (chợ Cầu Nghè) đến ngã ba tiếp giáp đường Thanh Trì (số 284 phố tạm gọi là Nam Dư). Thuộc phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai. Tên mới đặt: 12-2006. Lúc đầu dài 850m, tháng 6-2008 điều chỉnh kéo dài 400m đến đường Vành đai 3.
Nam Dư có tên nôm là Kẻ Dựa gồm 2 thôn: Nam Dư Thượng và Nam Dư Hạ vốn là một xã thuộc tổng Thanh Trì, huyện Thanh Trì xưa. Sau phân chia lại địa giới, Nam Dư Thượng nhập với Thúy Lĩnh thành xã Lĩnh Nam, Nam Dư Hạ nhập với Khuyến Lương thành xã Trần Phú. Từ 1- 2004, Lĩnh Nam và Trần Phú là 2 phường của quận Hoàng Mai.

Nam Hoa
Ngõ: ở phố Tôn Đức Thắng, cạnh số nhà 221 rẽ vào. Đất thôn Huy Văn, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Hàng Bột, quận Đống Đa. Còn gọi là ngõ 221 phố Tôn Đức Thắng.

Nam Lai
Ngõ: ở ngõ Chợ Khâm Thiên, cạnh số nhà 100 rẽ vào. Đất thôn Mỹ Đức, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Trung Phụng, quận Đống Đa.

Nam Ngư
Phố: dài hơn 200m, từ phố Phan Bội Châu đến phố Lê Duẩn. Đất thôn Nam Môn Thị Hoa Ngư, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.
Nam Ngư là tên gọi tắt của thôn này. Nay thuộc phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc vẫn gọi là ngõ Nam Ngư (ruelle Nam Ngư).

Nam Tràng
Phố: dài 250m; chạy dọc bờ tây bán đảo Ngũ Xã, trong hồ Trúc Bạch, hai đầu gặp phố Nguyễn Khắc Hiếu.

Đất thôn Ngũ Xã, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Trúc Bạch, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc là đường 105 và 106 (Voie 105-106). Sau Cách mạng gọi là đường Tao Đàn. Thời tạm chiếm là phố Nguyễn Đình Chiểu. Từ 1964 đổi tên này, là tên một xóm ở phía Nam Tràng đúc đồng, có người cho rằng Năm Tràng (Ngũ Xã) mới đúng.

Nghè Bô
Ngõ: ở phố Bạch Mai, cạnh số nhà 273 rẽ vào nên còn gọi là ngõ 273. Xưa có nghè làm nơi họp bô lão. Đất phường Hồng Mai, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng.

Nghi Tàm
Đường: dài 1,4km; từ ngã ba đê sông Hồng - đường Xuân Diệu (Quảng Bá) đến đầu dốc đường Thanh Niên (Yên Phụ). Vốn là đoạn đê sông Hồng, chạy song song với phố Yên Phụ ở phía trong. Đất hai phường Nghi Tàm và Yên Hoa, tổng Thượng, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc các phường Quảng An, Tứ Liên, Yên Phụ, quận Tây Hồ. Tên mới đặt năm 1986.
Nghi Tàm là tên thôn thuộc tổng Thượng, huyện Vĩnh Thuận cũ, bám sát bờ đông hồ Tây, có một doi đất nhô ra. Gồm ba xóm: xóm Cái ở sát chân đê, xóm Trên là xóm chính ở giữa và xóm Đình ở phía đông qua cửa chùa Kim Liên đi vào, có tên cũ là Đồng Bông. Nghi Tàm là làng hoa - cây cảnh nay thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ.

Nghĩa Dũng
Phố: dài 350m; ngoài đê trên bãi Nghĩa Dũng từ bờ sông Hồng đến đường Hồng Hà cạnh đê Yên Phụ. Đất thôn Nghĩa Dũng, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ, vốn thôn này ở trong đê, do bãi bồi ngày càng mở rộng địa giới ra bãi. Nay thuộc phường Phúc Xá, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc gọi là dốc Nghĩa Dũng. Tên mới đặt chính thức năm 1994.

Nghĩa Tân
Phố: dài l,05km; từ đường Hoàng Quốc Việt rẽ vào, chạy qua chợ Nghĩa Tân, trụ sở Ủy ban nhân dân phường Nghĩa Tân, vòng tới đường Nguyễn Phong Sắc đến phố Phan Văn Trường. Nay thuộc phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy. Tên mới đặt tháng 1- 1999. Lúc đầu chỉ dài 650m đến đường Nguyễn Phong Sắc. 8-2005 kéo dài thêm 400m.
Phố Nghĩa Tân gồm nhiều khu nhà ở tập thể, xây dựng trên cánh đồng xã Nghĩa Đô là chủ yếu; thêm một phần của xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm trước đây.
Năm 1982, xã Nghĩa Đô và khu tập thể này tách ra thành lập thị trấn Nghĩa Đô, thuộc huyện Từ Liêm. Nhưng do rộng quá và phát triển nhanh nên đã chia thành hai thị trấn: Nghĩa Đô (làng cũ và vùng ven) và Nghĩa Tân (khu xây dựng mới), cùng thuộc huyện Từ Liêm. Tháng 9 -1997 thành lập quận Cầu Giấy, cả hai thị trấn trở thành phường của quận mới.

Ngõ Gạch
Phố: dài 130m; từ phố Hàng Giày đến phố Hàng Đường.
Nhà số 10 có đình Thanh Hà, di tích xếp hạng năm 1989. Vốn là một đoạn của lòng sông Tô cũ lấp đi, làm phố cuối thế kỷ XIX thuộc địa phận thôn Cổ Lương, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Vì ở bên sông nên kinh doanh vật liệu xây dựng, phần lớn là gạch nung từ các lò ở bãi sông Hồng đưa vào, nên thành tên Ngõ Gạch, chạy dài suốt cả phố Nguyễn Văn Siêu bây giờ. Đến thời Pháp thuộc mới ngắt làm hai phố. Nay thuộc phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là phố Hàng Gạch (rue des BriRues).

Ngõ Trạm
Phố: dài 230m; từ phố đường Thành (cạnh chợ Hàng Da), đến phố Phùng Hưng. Đất thôn Yên Trung Hạ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Phố mới mở, thời Pháp thuộc chạy bên cạnh phố Ngõ Trạm cũ, lúc đầu dân quen gọi là Ngõ Trạm mới, đến khi Ngõ Trạm cũ đặt tên là Hà Trung, thì phố này dân gọi là Ngõ Trạm, chứ không gọi tên do Pháp đặt. Nhà số 2 là nhà thờ Tin Lành. Nay thuộc phường Hàng Bông, quận hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là phố Buarê (rue Bounet). Sau Cách mạng lấy lại tên dân gian này.

Ngọc Hà
Phố: dài 550m; từ đường Hoàng Hoa Thám xuống dốc, cạnh vườn Bách Thảo, lượn quanh phía đông làng Ngọc Hà đến phố Sơn Tây, chạy qua ngã ba vào vườn Bách Thảo, cửa Bảo tàng Hồ Chí Minh và cắt ngang phố Đội Cấn. Đất trại Ngọc Hà, tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận cũ.
Phố có nhiều ngõ, bên số chẵn đi vào làng Ngọc Hà, nhiều ngõ cộc đánh số từ 2 đến 34. Riêng có một ngõ ở bên số lẻ, nhưng lại đánh số ngõ 12A, đó là chợ Ngọc Hà xưa có tên là chợ Hoàng Hoa (ở đoạn cuối gần phố Sơn Tây). Đoạn đầu được gọi là dốc Ngọc Hà. Thời Pháp thuộc làng Ngọc Hà và vườn Bách Thảo còn có tên gọi chung là trại Hàng Hoa.
Ngõ: ở cuối dốc Ngọc Hà rẽ phải (là đường vào trung tâm làng hoa Ngọc Hà), có nhiều ngách thông sang phố Đội Cấn và đường Hoàng Hoa Thám, Đại Yên, Hữu Tiệp… Đình Ngọc Hà ở ngay đầu ngõ - di tích xếp hạng năm 1992. Cạnh đó có xác máy bay B52 bị bắn rơi đêm 27 tháng 12-1972 nằm trong hồ Hữu Tiệp, di tích kháng chiến được xếp hạng năm 1979. Cụm đình - chùa - đền - Vĩnh Phúc xếp hạng năm 1990. Cả phố và ngõ nay thuộc hai phường Ngọc Hà và Đội Cấn, quận Ba Đình.

Ngọc Hồi
Đường: dài 5km, vốn là đoạn quốc lộ số 1A, nối tiếp đường Giải Phóng từ ngã ba Pháp Vân đi qua xã Hoàng Liệt, thị trấn Văn Điển đến cầu Ngọc Hồi, trên đất huyện Thanh Trì. Tên mới đặt tháng 8-2005.
Ngọc Hồi trước thế kỷ XX là một ấp của trang Vĩnh Khang, thời Nguyễn là một thôn của Kẻ Giả Vĩnh Trung, tổng Cổ Điển, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Sau 1945, có thời kỳ là xã Việt Hưng, huyện Thường Tín, năm 1965 đổi lại là Ngọc Hồi, huyện Thường Tín, Hà Tây; năm 1979 nhập vào huyện Thanh Trì, Hà Nội. Cuối năm 1788, quân Thanh sang xâm chiếm nước ta, lập đồn tiền tiêu bảo vệ Thăng Long nhằm ngăn chặn quân Tây Sơn từ phía nam ra. Với lối đánh thần tốc, đại quân Quang Trung đã tấn công đồn Ngọc Hồi đêm mồng 4, rạng sáng ngày 5 tết Kỷ Dậu 1789, tiêu diệt khoảng một vạn quân địch, còn 2 vạn tên tháo chạy về Thăng Long bị tượng binh Tây Sơn dồn xuống chết chìm ở Đầm Mực (Vĩnh Quỳnh). Vua Quang Trung thừa thắng xốc tới diệt đồn Khương Thượng – Đống Đa tiến vào giải phóng Thăng Long. Xã Ngọc Hồi nay có 3 thôn: Ngọc Hồi, Lạc Thị và Yên Kiện.

Ngọc Khánh
Phố: dài hơn 800m; từ phố Kim Mã chạy bên bờ tây hồ Giảng Võ và cạnh Trung tâm Hội chợ - Triển lãm đến phố Giảng Võ. Đất trại Giảng Võ, tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận cũ.
Ngọc Khánh là một thôn tách từ trại này, phố có nhiều ngõ đi vào làng Giảng Võ. Nay thuộc hai phường Giảng Võ và Ngọc Khánh, quận Ba Đình. Đoạn cuối phố Kim Mã có một thời dân gọi là phố Ngọc Khánh nay đã xoá. Tên phố này đặt năm 1986. Vốn thuộc phường Cầu Giấy cũ, tháng 9-1997 lập quận Cầu Giấy nên đổi tên phường thành Ngọc Khánh.

Ngọc Lâm
Đường: dài 2,5km; từ đầu dốc Cẩm, đê tả ngạn sông Hồng, chạy dọc thị trấn Gia Lâm cũ - nay là phường Ngọc Lâm - song song với đường Nguyễn Văn Cừ đến ngã ba cây xăng gặp đường Nguyễn Văn Cừ ở gần Cầu Chui. Ngọc Lâm - tên nôm là Cầu Cá - một thôn của xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm, sau cắt đất làm thị trấn Gia Lâm trước đây. Nay thuộc phường Ngọc Lâm, quận Long Biên (từ 2004).
Trước đây, từ ngã ba với phố Long Biên 1 và 2 đến giữa thị trấn gọi là phố Ái Mộ, đoạn tiếp đến vườn hoa gọi là phố Ngọc Lâm. Nay kéo dài thêm đoạn đầu từ dốc Cẩm và đoạn cuối đến ngã ba cây xăng, thống nhất gọi là đường Ngọc Lâm, đặt tên tháng 7-1999.

Ngọc Thụy
Đường: dài 3,8km; từ bắc cầu Long Biên đến cầu Đông Trù gặp quốc lộ 5 kéo dài, chạy trên đê hữu ngạn sông Đuống (đoạn này gọi là đê Gia Thượng). Phường Ngọc Thụy, quận Long Biên. Tên mới đặt: 12-2006.
Ngọc Thụy là tên xã thuộc huyện Gia Lâm, Bắc Ninh trước đây. 1953 thuộc quận III ngoại thành, từ 1961 thuộc huyện Gia Lâm. Từ 2004 thành phường của quận Long Biên. Xã trước có 6 thôn: Bắc Biên, Bắc Cầu, Gia Quất, Gia Thượng, Trung Hà, Yên Tân. Xóm cô đầu cũ ở thôn Gia Quất, nay thuộc phường Thượng Thanh, quận Long Biên.

Ngô Gia Khảm
Phố: dài 300m; từ cuối công viên thị trấn Gia Lâm cũ, gần cửa ga xe lửa Gia Lâm, qua cạnh hồ Gia Thụy đến đường Nguyễn Văn Cừ, trước thuộc thị trấn Gia Lâm, từ 2004 là phường Ngọc Lâm, quận Long Biên. Tên mới đặt tháng 7-1999.
Ngô Gia Khảm (1919 -1990): Anh hùng lao động, quê xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sinh ra trong một gia đình cách mạng, ông được cậu là Ngô Gia Tự giác ngộ và tham gia cách mạng từ sớm. 16 tuổi làm thợ nguội Nhà máy Xe lửa Gia Lâm. 1941, bị Pháp bắt đày đi Sơn La. Ra khỏi ngục, 1944 tham gia chế vũ khí cho Việt Minh. Ông là một trong những người lập xưởng quân khí, làm ra quả tựu đạn đầu tiên. Sau Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp ông lập xưởng hoá chất đầu tiên ở Việt Bắc, chế tạo hạt nổ, ba lần chế thử bị thương nặng vẫn không nản. 1952 được tuyên dương Anh hùng lao động đợt đầu tiên. 1954 làm giám đốc Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, rồi làm Cục trưởng Cục Đầu máy - Toa xe, Tổng cục đường sắt, Trưởng ban Thanh tra Bộ Giao thông vận tải.

Ngô Gia Tự
Đường: dài 3km; từ Cầu Đuống đến vòng tròn ngã ba Cầu Chui - quốc lộ 5, nối với đường Nguyễn Văn Cừ vốn là một đoạn của quốc lộ 1A, chạy dọc thị trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm trước đây, nay là phường Đức Giang, quận Long Biên (từ 2004). Tên mới đặt năm 1994.
Ngô Gia Tự (1908 - 1935): nhà cách mạng tiền bối của Đảng Cộng sản Việt Nam, người xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Học trường Bưởi, bị đuổi vì bãi khoá. Gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội. 1927 sang Quảng Châu dự huấn luyện, về nước được cử vào Tỉnh bộ Bắc Ninh, Kỳ bộ Bắc Kỳ. Ông là một trong 7 người lập Chỉ bộ Cộng sản đầu tiên ở phố Hàm Long (3-1929). Thành lập Đảng, ông làm Bí thư lâm thời Xứ ủy Nam Kỳ. Cuối năm 1930 bị bắt và kết án tù chung thân. 1933 đày ra Côn Đảo. Tháng 1-1935, ông cùng một số đồng chí vượt Côn Đảo và mất tích giữa biển Đông.

Ngô Quyền
Phố: dài 1,2km; từ phố Hàng Vôi đến phố Hàm Long chạy cắt ngang các phố Lý Thái Tổ, Lê Lai, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo. Số nhà 12 là Bắc Bộ phủ, nơi Hồ Chủ tịch ở và làm việc sau Cách mạng tháng Tám (trước là phủ Thống sứ Bắc Kỳ, nay là Nhà khách Chính phủ). Đất của nhiều thôn: Trừng Thanh Kiếm Hồ (tổng Tả Túc), Hậu Bi, Hậu Lâu (tổng Hữu Túc), Hàm Châu (tổng Hậu Nghiêm), thuộc huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc các phường Lý Thái Tổ, Tràng Tiền và Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là đại lộ Hăngri Rivie (Boulevard Henri Rivière).
Ngô Quyền (899 - 944): người làng Cam Lâm, huyện Tùng Thiện (nay thuộc xã đường Lâm, ngoại thị Sơn Tây, Hà Nội), vào Châu Ái theo Dương Đình Nghệ khởi nghĩa đánh thành Đại La, đuổi quân Nam Hán (931). Sáu năm sau, Dương Đình Nghệ bị sát hại, ông đem quân ra hỏi tội tên phản bội Kiều Công Tiễn. Y đã sang cầu cứu nhà Nam Hán. Cuối năm 938, Hoằng Thao đem quân sang xâm lược nước ta bằng đường thủy. Ngô Quyền đã dựng trận địa cọc ở cửa sông Bạch Đằng, lợi dụng thủy triều, đưa chiến thuyền của địch vào bẫy bị vỡ nát, ông đánh tan quân giặc, giữ vững nền tự chủ. Ông lên làm vua, đóng đô ở Cổ Loa, lập ra nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở nước ta.

Ngô Sĩ Liên
Phố: dài 260m; từ phố Nguyễn Khuyến đến phố Quốc Tử Giám. Đất thôn Ngự Sử, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Cuối phố có chùa Phổ Giác, di tích đã xếp hạng năm 1991. Nay thuộc phường Văn Miếu quận Đống Đa.
Tên dân gian gọi là phố Hàng Đũa. Thời pháp thuộc gọi là phố Lý Thường Kiệt.
Ngõ: nối phố này với phố Trần Quý Cáp, ngang qua chợ Ngô Sĩ Liên. Tên dân gian là ngõ Hàng Đũa. Thời Pháp thuộc là đường 258 (voie 258). Sau Cách mạng: phố và ngõ mang tên này.
Ngô Sĩ Liên (thế ký XV): người làng Chúc Lý, huyện Chương Đức, nay là xã Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Năm 1442 thi đậu tiến sĩ, làm ở Hàn lâm viện, rồi giữ chức Đô ngự sử. Năm 1479, đời Hồng Đức, theo lệnh vua Lê Thánh Tông, ông biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư, trở thành nhà sử học nổi tiếng ở nước ta.

Ngô Tất Tố
Phố: dài 100m; từ phố Văn Miếu chạy vào, có ngách thông sang phố Ngô Sĩ Liên. Đất thôn Ngự Sử, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Thời Pháp thuộc là đường 251 (voie 251). Sau Cách mạng gọi phố Trạng Bùng. Thời tạm chiếm là phố 226. Tên phố này đặt năm 1994.
Ngô Tất Tố (1894 - 1954): nhà báo, nhà văn hiện đại, người làng Lộc Hà, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Ông đỗ đầu xứ nhưng bỏ nho học, đi làm báo, viết văn, dịch thuật. Những tác phẩm nổi tiếng trước Cách mạng như Tắt đèn, Việc làng, Lều Chõng…. cùng với nhiều bài báo bình luận xuất sắc ký nhiều bút danh; những sách nghiên cứu phê bình như Nho giáo, Lão Tử, Mặc Tử, dịch thơ văn Hán - Nôm và truyện Trung Quốc. Ông tham gia Văn hoá cứu quốc, đi kháng chiến chống Pháp, làm báo cách mạng và mất tháng 4-1954 tại Yên Thế, Bắc Giang. Được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh (1996).

Ngô Thì Nhậm
Phố: dài gần 600m; từ phố Hàm Long đến phố Nguyễn Công Trứ, cắt ngang qua các phố Lê Văn Hưu, Trần Xuân Soạn, Hoà Mã. Đất các thôn Hàm Châu, Tràng Khánh, Hành Môn, Yên Hội, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay đoạn đầu thuộc phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, phần sau thuộc phường Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc: đoạn đầu là phố Mới (rue Nouvelle), đoạn sau là phố Giắccanh (rue Jacquin). Sau Cách mạng gộp lại gọi là phố Kinh Dương Vương. Từ thời tạm chiếm, đổi tên này (còn gọi Ngô Thời Nhiệm).
Ngô Thì Nhậm (1746 -1803): nhà văn hoá - quân sự, người làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Đỗ tiến sĩ, làm tới Hữu thị lang bộ Công thời Lê mạt. Quang Trung ra Bắc Hà, trọng dụng ông, cử ông trấn giữ Thăng Long cùng với Ngô Văn Sở. Quân Thanh sang xâm lược, ông hiến kế lui quân về Tam Điệp bảo toàn lực lượng, đợi đại quân Tây Sơn ra, cùng tiến đánh giải phóng kinh thành đầu mùa xuân Kỷ Dậu 1789. Triều Tây Sơn mất, ông bị nhà Nguyễn bắt, hãm hại bằng trận đòn thù ở sân Văn Miếu, về nhà ốm chết. Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị về văn, sử, triết, ngoại giao. Tại làng Tả Thanh Oai còn nhà thờ và lăng mộ Ngô Thì Nhậm.

Ngô Văn Sở
Phố: dài 170m; từ phố Bà Triệu đến phố Quang Trung. Đất thôn Phúc Lâm tổng Tả Nghiêm huyện thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là đường 81(voie 81) sau đổi là phố Giuho (rue Jouhaux). Sau Cách mạng gọi là phố Khuông Việt. Thời tạm chiếm đổi tên này.
Ngô Văn Sở (? -1794): danh tướng thời Tây Sơn, quê ở huyện Thiên Lộc, nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; lớn lên ở huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Năm 1787 ra Thăng Long diệt Trịnh, được Nguyễn Huệ giao trấn giữ Bắc Hà. 1788, ông cùng Ngô Thì Nhậm thực hiện kế hoạch lui quân về Tam Điệp, giữ lực lượng để tham gia giải phóng Thăng Long năm 1789. Ông từng đi sứ sang triều Thanh trong đoàn phái bộ Quang Trung “giả” năm 1790. Vì gièm pha, ông bị dìm chết dưới sông Hương thời vua Quang Toản.

Ngô Xuân Quảng
Phố: dài 1,3km; từ quốc lộ 5 rẽ qua đường sắt ngã tư Trâu Quỳ, đi qua trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm vào trường Đại học Nông Nghiệp 1. Đất thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm. Tên mới đặt tháng 7-2001.
Ngô Xuân Quảng (1945 -1972): người Cống Thôn, xã Yên Viên, huyện Gia Lâm, liệt sĩ được truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhập ngũ năm 1965, lúc đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh đánh phá miền Bắc, anh tham gia bộ đội phòng không, đánh máy bay Mỹ hàng trăm trận, ba lần bị thương nặng anh vẫn giữ vững vị trí cùng đơn vị bắn rơi nhiều máy bay địch. Đầu năm 1971 vết thương cũ tái phát, anh vẫn hành quân cùng đồng đội, đường trơn, xe đổ, anh bị chấn thương cột sống, liệt cả hai chân. Anh đã hy sinh ngày 5- 7-1972, lúc ấy là thiếu uý, đại đội phó pháo cao xạ, tiểu đoàn 21, sư đoàn 375.

Ngũ Hiệp
Đường: dài 2,1km; từ ngã ba quốc lộ 1 Ngọc Hồi, trước mặt tượng đài chiến thắng Ngọc Hồi, đi qua đình Ngũ Hiệp, thôn Tự Khoát, thôn Tương Chúc, đến ngã tư cầu Om - lối rẽ vào xã Liên Ninh - hết địa phận xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, gặp đường Đông Mỹ. Đặt tên tháng 6-2008.
Ngũ Hiệp là một xã thuộc huyện Thanh Trì, có 5 thôn: Đông Trạch, Tự Khoát, Tượng Trúc, Việt Yên, Lưu Phái. Bốn thôn trên Nguyễn là 4 xã của tổng Nam Phù Liệt và xã Lưu Phái của tổng Cổ Điển nhập lại. Năm 1961 thuộc ngoại thành Hà Nội. Nằm cận kề quốc lộ 1, giáp xã Ngọc Hồi, Ngũ Hiệp ngoài nghề nông còn có nghề thủ công đan thúng ở Tự Khoát, làm lược sừng ở Tương Trúc.

Ngũ Xã
Phố: dài 250m; từ phố Phó Đức Chính đến phố Nam Tràng, chạy ngang giữa bán đảo Ngũ Xã ở hồ Trúc Bạch.
Đất thôn Ngũ Xã, tổng Yên thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nơi cư trú của thợ đúc đồng năm làng Hè, Me, Rồng, Di trên, Di dưới - thuộc huyện Siêu Loại (nay là huyện Thuận Thành - Bắc Ninh và Văn Lâm - Hưng Yên), lập nên phường đúc đồng ở kinh thành. Chùa Ngũ Xã (Thần Quang tự) ở nhà số 44 có pho tượng Di Đà bằng đồng vào loại lớn nhất nước ta và đình thờ Nguyễn Minh Không, tổ nghề đúc đồng, di tích xếp hạng năm 1993. Nay thuộc phường Trúc Bạch, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc là phố Trần Hưng Đạo. Sau Cách mạng đổi tên này.

Ngụy Như Kon Tum
Phố: dài 1,1km; từ số 160 Khuất Duy Tiến cắt qua các đường Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng đến số 116 Nhân Hoà, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân. Tên mới đặt: 12-2006. Trước đó, dân tự đặt là Hồng Liên.
Ngụy Như Kon Tum (1913 - 1991): quê xã Minh Hưng, huyện Hương Trà, Thừa Thiên, sinh tại Kom Tum, đỗ thạc sĩ vật lý - hoá học tại Pháp năm 1937. Về nước dạy học ở các trường trung học tại Huế, Hà Nội. Cộng tác viết cho báo Khoa học. Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia mọi công tác với nhiệt tình yêu nước của một trí thức chân chính. Kháng chiến chống Pháp ông lên Việt Bắc đảm nhiệm nhiều chức vụ trong ngành giáo dục. 1956 - 1982 là Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông còn tham Đoàn chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam, chủ tịch Hội Vật lý Việt Nam, đại biểu Quốc hội khoá III, IV, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Đoàn chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành công đoàn giáo dục thế giới, Ủy viên Ban chấp hành Hội hữu nghị Việt - Pháp.

Nguyên Hồng
Đường: dài hơn km; từ đường La Thành qua Phòng thuế trước bạ, khu nhà tập thể gần hồ Thành Công, trường Phổ thông cơ sở Nam Thành Công, cắt ngang qua phố Huỳnh Thúc Kháng đến cuối phố Vũ Ngọc Phan. Nay thuộc phường Thành Công, quận Ba Đình và phường Láng Hạ, quận Đống Đa. Tên mới đặt 7-1996.
Nguyên Hồng (1918 - 1982): nhà văn Việt Nam, họ Nguyễn, sinh ở phố Hàng Cau, Nam Định; sống làm việc nhiều năm ở Hải Phòng, tham gia Đoàn Thanh niên dân chủ, viết báo. Pháp bắt giam ở trại Bắc Mê (1939 -1942). Ra tù, tham gia Văn hoá cứu quốc Trong kháng chiến ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm tạp chí Văn nghệ. 1970 về hưu, sống ở Yên Thế - Bắc Giang; sáng tác cho đến khi mất. Ông là nhà văn lớn trong dòng văn hiện thực phê phán: Bỉ vỏ (1936), Những ngày thơ ấu (1938) và nhiều truyện ngắn in trong Bảy Hựu (1941), Miếng bánh (1945). Sau hoà bình, ông viết bộ Cửa biển, tiểu thuyết trường thiên gồm 4 cuốn: Sóng gầm, Cơn bão đã đến, Thời kỳ đen tối, Khi đứa con ra đời. Năm 1996 được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

Nguyên Khiết
Phố: dài 410m; từ Công ty May Hoàng Mai số nhà 118 ngoài bãi sông Hồng vào đến đường Hồng Hà cạnh đê bên đường Trần Nhật Duật. Nay thuộc phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm. Tên mới đặt tháng 7-1999.
Nguyên Khiết: là tên của hai thôn Nguyên Khiết Thượng và Hạ thuộc tổng Tả Túc (sau là Phúc Lâm), huyện Thọ Xương, Thăng Long - Hà Nội xưa, đây là bến thuyền tấp nập của sông Hồng, cạnh cửa sông Tô.


Nguyễn An Ninh
Phố: dài 780m, từ đường Trương Định chạy ngoặt khúc qua khu nhà ở Trương Định, vượt sông Lừ, tới phố Vọng (đoạn cuối cũ ngắt ra lập phố Tương Mai).
Đất các xã Thịnh Liệt và Tương Mai, huyện Thanh Trì cũ. Sau thuộc hai phường Tương Mai, phường Giáp Bát, quận Hai Bà Trưng. Hai phường này nay thuộc quận Hoàng Mai.
Tên mới đặt tháng 2-1994 (đến khu nhà ở Trương Định), năm 1995 kéo dài thêm (đến đường Giải Phóng). Tháng 7-2007 điều chỉnh nắn thẳng qua cầu Nguyễn An Ninh đến phố Vọng.
Nguyễn An Ninh (1900 -1943): nhà báo, nhà văn, nhà yêu nước, sinh ở làng Trung Chánh, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh). Đỗ cử nhân luật tại Pháp. 1922 về nước, diễn thuyết và ra báo Chuông rè (La cloche féleé) bằng tiếng Pháp tại Sài Gòn, công kích chế độ thuộc địa và bọn tham nhũng. 1926 Pháp bắt giam 18 tháng, do quần chúng đấu tranh và ông làm đơn xin nên được ân xá và sang Pháp. 1928 trở về nước, ông bị bắt vì tội lập hội kín Nguyễn An Ninh. 1930 ra tù viết báo lại bị bắt, ông tuyệt thực, được quần chúng đấu tranh nên chúng tha rồi lại bắt. Được tự do năm 1939, ngả theo cộng sản, viết báo Dân chúng, lại bị Pháp bắt tiếp đày đi Côn Đảo và mất trong tù.

Nguyễn Biểu
Phố: dài 280m; từ phố Trấn Vũ ven bờ nam hồ Trúc Bạch, cắt ngang qua phố Quán Thánh đến phố Phan Đình Phùng.
Đất thôn Tân Yên, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Quán Thánh, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc là phố Anh em Xnâyđe (Rue des frères Schneider).
Nguyễn Biểu (? -1413) người xã Nội Diên, huyện Chi La, nay là Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ thái học sinh đời Trần Trùng Quang, làm đến chức Điện tiền Thị ngự sử. Quân Minh sang xâm lược, ông về quê lập hương binh theo Trần Quý Khoáng khởi nghĩa (1409). Trương Phụ đánh Nghệ An, vua Trùng Quang cử ông sang trại giặc điều đình. Trước uy vũ dọa nạt của quân thù, ông điềm tĩnh ứng phó, ăn cỗ đầu người do quân Minh đưa ra thử. Chúng đã sát hại bằng cách buộc ông vào chân cầu sông Tam để thủy triều dâng lên dìm chết.

Nguyễn Bình
Đường: dài 1,7km; từ cuối đường Nguyễn Đức Thuận (chỗ rẽ vào Công ty Sữa Vinamilk) đến hết địa phận Hà Nội ở chỗ qua đền nguyên phi Ỷ Lan. Đây là một đoạn quốc lộ 5 chạy trên đất xã Dương Xá, Gia Lâm. Đặt tên tháng 6-2008.
Nguyễn Bình (1909 -1951): quê xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên, tên chính là Nguyễn Phương Thảo. 1928 vào Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học, khởi nghĩa Yên Bái thất bại bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Trong tù ông giác ngộ đi theo chủ nghĩa cộng sản. 1935 ra tù về hoạt động ở quê nhà trong phong trào Bình dân. 1943 được Trung ương giao mua vũ khí và xây dựng cơ sở cách mạng ở Hải Phòng. 1945 đánh đồn Bần, đồn Bí Chợ, Mạo Khê, chỉ huy chiến khu Đông Triều. Trong Cách mạng tháng Tám, ông tổ chức đánh chiếm thị xã Quảng Yên, cướp chính quyền ở Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, được cử làm khu trưởng khu Duyên Hải Bắc Bộ. Tháng 10-1945, Hồ Chủ tịch cử ông vào Nam Bộ làm Tư lệnh trưởng quân khu 7. Năm 1946 được kết nạp vào Đảng Cộng sản. 1948 được phong Trung tướng, Tư lệnh chỉ huy quân đội và dân quân Nam Bộ. Ông có công thống nhất các lực lượng vũ trang của các giáo phái miền Nam đánh Pháp. Ông hy sinh trên đường ra Bắc báo cáo Trung ương tại Campuchia, được truy tặng liệt sĩ, Huân chương Hồ Chí Minh.

Nguyễn Bỉnh Khiêm
Phố: dài 520m; từ phố Hồ Xuân Hương đến phố Tô Hiến Thành, cắt ngang qua các phố Trần Nhân Tông, Tuệ Tĩnh. Đất thôn Thiền Quang, Thể Giao, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc hai phường Nguyễn Du và phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc là hai phố: đoạn đầu (đến Trần Nhân Tông): phố Rơnê Đôren (rue René Daurelle), đoạn sau là đường 296 (voie 296). Sau Cách mạng nhập lại đặt là phố Trần Phú. Thời tạm chiếm đổi sang tên này.
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585): nhà tư tưởng, nhà thơ lớn của thế kỷ XVI, ông người làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo (nay thuộc thành phố Hải Phòng). Năm 45 tuổi, ông đỗ trạng Nguyễn làm quan dưới triều Mạc từ Tả Thị lang đến Thượng thư Bộ Lại, tước Trình Tuyên hầu, khi mất được phong Quốc công. Người đời quen gọi là Trạng Trình. 70 tuổi, ông về hưu mở trường dạy học, viết sách, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, Tuyết Giang phu lử, tự Hạnh Phủ. Tương truyền ông giỏi lý số, làm nhiều câu sấm ngữ, để lại nhiều thơ Hán - Nôm trong tập Bạch Vân thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập.
 

Nguyễn Cảnh Chân
Phố: dài 250m; từ phố Phan Đình Phùng đến phố Hoàng Văn Thụ. Vốn là đất trong hoàng thành Thăng Long cũ. Nay thuộc phường Quán Thánh, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc là phố Đéttơnay (rue Destenay). Sau Cách mạng đổi tên này.
Nguyễn Cảnh Chân (? - 1409): người làng Ngọc Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; đã làm quan tới chức An Phủ sứ Hoá Châu, sau bị nhà Hồ giáng chức. Năm 1407, quân Minh xâm lược, bắt Hồ Quý Lý, ông theo Trần Ngỗi (Giản Định đế) khởi nghĩa chống Minh, giúp việc quân mưu, sau bị vua nghi ngờ, giết hại cùng với Đặng Tất.

Nguyễn Cao
Phố: dài 330m; từ phố Nguyễn Huy Tự qua phố Lê Quý Đôn, ngoặt sang phố Lò Đúc (cạnh nhà số 139), nay thành chợ Nguyễn Cao. Phố có một nhánh ngõ nhỏ. Đất thôn Cảm Ứng, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Đống Mác, quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc là đường 163 (voie 163). Sau Cách mạng gọi là phố Nguyễn Thị Bình. Thời tạm chiếm là Chu Mạnh Trinh. Từ 1964, đổi mang tên này.
Nguyễn Cao (1828 -1887): hiệu Trác Phong, người làng Cách Bi, huyện Quế Dương (nay là Quế Võ), tỉnh Bắc Ninh; đỗ giải Nguyên; làm quan Bố chánh Thái Nguyên. Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (1882), ông từ quan, lập nghĩa quân chống lại; từng tập kích vào Đồn Thuỷ, Gia Lâm. Dân quen gọi ông Tán Cách Bi. Năm 1886, bị Pháp bắt, ông rạch bụng tự sát, bảo toàn khí tiết nhưng không chết. Năm sau, chúng đem chém ông ở vườn Dừa (nay là quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục), Hà Nội.

Nguyễn Cao Luyện
Phố: dài 1,2km; từ số 434 phố Ngô Gia Tự đến khu nhà P3 khu đô thị Việt Hưng, phường Việt Hưng, quận Long Biên. Đặt tên tháng 6-2008.
Nguyễn Cao Luyện (1900 -1987): kiến trúc sư, sinh ở thành phố Nam Định, đỗ đầu khoa kiến trúc trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1933) được sang tu nghiệp tại Pháp. Về nước ông mở văn phòng kiến trúc sư và dạy học, đào tạo nhiều kiến trúc sư cho đất nước. Sau Cách mạng 1945, ông giữ nhiều chức vụ: Phó giám đốc Vụ Kiến trúc Bộ Giao thông công chính, Hiệu trưởng đầu tiên trường Đại học Kiến trúc, Giám đốc Cục Thiết kế, Bộ Kiến trúc; Thứ trưởng Bộ Kiến trúc; đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa IV; Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ủy viên thường vụ Ủy ban Trung ương Liên hiệp các hội Văn học - nghệ thuật Việt Nam; cố vấn Hội Kiến trúc sư. Ông là nhà thiết kế có tài, để lại nhiều tác phẩm công trình kiến trúc đẹp cho đất nước. Ông còn là tác giả một số sách độc đáo giới thiệu nền kiến trúc cổ Việt Nam. Nhà nước truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (1996).

Nguyễn Chế Nghĩa
Phố: dài 140m; từ phố Trần Hưng Đạo đến phố Hàm Long. Đất thôn Hàm Châu, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Trần Hưng Đạo và Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là phố Bécna đờ Bô (rue Bernard de Beau). Sau Cách mạng đổi tên này.
Nguyễn Chế Nghĩa (thế kỷ XIII): người làng Cối Xuyên, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; một danh tướng đời Trần, theo Trần Hưng Đạo chiến đấu ở biên giới, Phả Lại, Bạch Đằng, lập nhiều chiến công chống quân Mông-Nguyên năm 1288. Sau chiến thắng được phong tước Nghĩa Xuyên công. Vua Trần Anh Tông gả công chúa Ngọc Hoa cho.

Nguyễn Chí Thanh
Phố: dài 1,8km: từ phố Kim Mã (chỗ ngã tư khách sạn Đai-u) đi giữa một bên là hồ Ngọc Khánh, một bên là Đài Truyền hình Việt Nam, cắt ngang qua đường La Thành, đến đường Láng, chỗ có cầu qua sông Tô Lịch. Đất trại Yên Lãng và phường Nhược Công, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình và phường Láng Thượng, Láng Hạ, quận Đống Đa. Đây là đoạn phố Liễu Giai kéo dài (mới mở năm 1997) và phố Láng Trung (đặt tên năm 1986), nay nhập lại. Tên mới đặt tháng 1-1998.
Nguyễn Chí Thanh (1914 -1967): tên thật là Nguyễn Vịnh, Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông sinh ở làng Niêm Phổ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế; vào Đảng Cộng sản Đông Dương từ 1937, từng làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, đại biểu dự Hội nghị Tân Trào (1945), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy Bình - Trị - Thiên, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Bí thư Tổng Quân ủy, Ủy viên Bộ Chính trị. 1959 được phong Đại tướng, từ 1960 là Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng, phụ trách Ban Nông nghiệp của Đảng. Chống Mỹ, ông trở lại quân đội làm Bí thư Trung ương cục miền Nam, mất vì bệnh tại Hà Nội ngày 6-7-1967. Ông là một tướng lĩnh có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Nguyễn Chính
Phố: dài 650m; từ 56 phố Tân Mai đến khu Giáp Tứ, phường Thịnh Liệt. Phường Tân Mai và Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai. Tên mới đặt: 12-2006.
Nguyễn Chính (1562 - ?): người làng Đại Từ, huyện Thanh Trì (nay thuộc phường Đại Kim, quận Hoàng Mai), đỗ tiến sĩ năm 1602 niên hiệu Hoằng Định thời Lê Kính Tông. Năm 1631 được cử làm phó sứ trong sứ bộ sang Trung Quốc, ông chú ý học được nghề dát thiếc dùng trong việc trang trí và làm vàng mã, đem về nước truyền cho dân làng Giáp Lục, xã Thịnh Liệt ở cạnh quê ông, nơi ông cư ngụ trước khi thi đỗ. Ông làm quan đến chức Tả thị tang Bộ Lại, tước Quế Xuyên bá. Khi ông mất, dân Giáp Lục (nay thuộc phường Tân Mai, quận Hoàng Mai) ghi nhớ công ơn tổ nghề, đã thờ ông làm thành hoàng làng.

Nguyễn Công Hoan
Phố: dài hơn 530m; từ phố Ngọc Khánh rẽ qua cầu, trên mương Ngọc Khánh, đến phố Nguyễn Chí Thanh, bên bờ hồ Ngọc Khánh. Đất làng Ngọc Khánh, trại Giảng Võ, tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình. Tên mới đặt năm 1995.
Nguyễn Công Hoan (1903 -1977): nhà văn Việt Nam hiện đại, ông người làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm, đi dạy học cho đến Cách mạng tháng Tám. Viết văn từ năm 1920, nổi tiếng với truyện ngắn mang tính hoạt kê có phong cách riêng in trong An Nam tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy và các tiểu thuyết hiện thực: Bước đường cùng, Tắt lửa lòng, Lá ngọc cành vàng… từ trước cách mạng. Dưới chế độ ta, ông từng làm giám đốc Kiểm duyệt báo chí, Sở Tuyên truyền Bắc Bộ, tham gia Văn hoá cứu quốc. Kháng chiến chống Pháp, ông gia nhập quân đội, tiếp tục làm báo, viết văn; Ủy viên Chấp hành Hội Nhà văn nhiều khoá, Chủ tịch Hội Nhà văn khoá đầu (1957 - 1958). Tác phẩm giai đoạn sau có: Hỗn canh hỗn cư, Đống rác cũ, Đời viết văn của tôi. Năm 1996 được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

Nguyễn Công Trứ
Phố: dài hơn 1,2km; từ phố Trần Thánh Tông đến phố Huế, cắt ngang các phố Tăng Bạt Hổ, Lò Đúc. Đất các thôn Cảm Ứng, Yên Hội, Yên Hội Hàng Hương, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc các phường Phan Đình Hổ, Đồng Nhân, phố Huế, quận Hai Bà Trưng. Phố có nhiều ngõ nhỏ, chủ yếu đi vào các khu tập thể. Thời Pháp thuộc: lúc đầu là phố Nghĩa trang (rue de ta Cimetière) vì có nghĩa địa Tây ở đây. Sau đổi là phố Đội Larivê (rue sergent Larrivée). Sau Cách mạng gọi là phố Yécxanh. Thời tạm chiếm đổi thành tên này.
Ngõ: cùng tên ở cạnh số nhà 35 rẽ vào, đi thông sang phố Đồng Nhân.
Nguyễn Công Trứ (1778 -1858): hiệu Ngộ Trai, Hy Văn, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đỗ giải nguyên (1819), làm tri huyện rồi đến Tổng đốc, Thượng thư nhưng đầy chìm nổi, có lúc bị cách làm lính. Ông có tài thao lược, có công khai hoang lấn biển vùng Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình; lập ra các huyện mới: Tiền Hải, Kim Sơn... Ông còn là nhà thơ tài hoa, sáng tác nhiều bài ca trù nổi tiếng.

Nguyễn Cơ Thạch
Phố: dài 1km; từ đường Hồ Tùng Mậu, chỗ ngã ba cạnh trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm, đi qua khu đô thị mới Mỹ Đình I, II đến bùng binh gần khu nhà CT6 Mỹ Đình, trên đất xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm. Đặt tên tháng 6-2008.
Nguyễn Cơ Thạch (1951-1998): tên thật là Phạm Văn Cương, quê xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, Nam Định. 17 tuổi đã tham gia Thanh niên dân chủ và Thanh niên phản đế. 1940 bị Pháp bắt giam ở nhà lao Nam Định, Sơn La, Hòa Bình. 1943 vào Đảng Cộng sản và nhà tù Sơn La. Cách mạng tháng Tám tham gia cướp chính quyền ở phủ Nghĩa Hưng và huyện Vụ Bản, rồi làm Bí thư cho đồng chí Võ Nguyên Giáp ở Bộ Quốc phòng, quyền Bí thư Đảng ủy các cơ quan Bộ Quốc phòng, quyền Bí thư kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Hà Đông, Ủy viên Đảng đoàn và Ủy viên ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu III. Bí thư Đảng ủy các cơ quan Liên khu III. Từ 1954, ông chuyển sang làm công tác ngoại giao, làm Chánh văn phòng Bộ Ngoại giao, Tổng lãnh sự tại Ấn Độ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, trợ lý đồng chí Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris. Từ năm 1986 là Ủy viên Trung ương Đảng, Quốc vụ khanh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ông là nhà ngoại giao có tài, đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII; Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh.

Nguyễn Du
Phố: dài 1,06km; từ phố Huế đến đường Lê Duẩn, cắt ngang qua các phố Bà Triệu, Quang Trung, Trần Bình Trọng, Yết Kiêu, chạy bên bờ bắc hồ Thiền Quang. Đất các phường, thôn: Phục Cổ, Thuần Mỹ (tổng Tả Nghiêm), Liên Thủy; Cung Tiến (tổng Tiền Nghiêm), thuộc huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc hai phường Bùi Thị Xuân và Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc là ba phố: đoạn đầu đến ngã năm Bà Triệu là đường 88 (voie 88) sau đổi là phố Rikiê (rue Riquier). Đoạn giữa cạnh hồ là phố Hale (rue Halais). Đoạn cuối là phố Đuyphuốc (rue Dufourcq). Sau Cách mạng đặt tên Nguyễn Du cho tất cả các đoạn trên.
Nguyễn Du (1766 -1820): đại thi hào dân tộc, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, sinh ra ở phường Bích Câu, thành Thăng Long. Ông có tự là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, xuất thân trong một gia đình quý tộc. Đậu tú tài, làm chức quan nhỏ thời Lê mạt. Khi Tây Sơn ra Bắc Hà, ông lánh về quê vợ ở Thái Bình, rồi về quê nội. Thời Gia Long ông được bố trí làm Tri huyện, Tri phủ, phong hàm Cần chánh điện học sĩ, từng đi sứ sang Trung Quốc. Ông để lại nhiều thi phẩm Hán Nôm, trong đó có tác phẩm bất hủ Truyện Kiều. Ông được UNESCO phong là Danh nhân văn hoá thế giới. Năm 1966, các châu lục đều tổ chức kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông.

Nguyễn Duy Trinh
Phố: dài 550m; từ vườn hoa trung tâm bán đảo Linh Đàm đến nhà văn hoá trung tâm bán đảo Linh Đàm, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai. Tên mới đặt: 12-2006.
Nguyễn Duy Trinh (1910 - 1985): sinh tại xã Nghi Thọ, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. 1925 đã tham gia phong trào học sinh yêu nước ở Vinh, rồi gia nhập đảng Tân Việt. Ông được cử vào Sài Gòn hoạt động và bị địch bắt kết án 18 tháng tù, trục xuất về quê. Ông gia nhập Đảng Cộng sản, trong cao trào cách mạng 1930 – 1931 lại bị bắt, đày ra Côn Đảo và Kon Tum. Sau Nhật đảo chính Pháp ông mới ra tù. Trong Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp ông được giao nhiều chức vụ quan trọng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II. Hoà bình lập lại, ông được bầu vào Ban Bí thư và Bộ Chính trị (1956 -1981), tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa V, đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khoá VII. Nhiều năm ông giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, có đóng góp to lớn vào Hội nghị Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam. Năm 1973 được thưởng Huân chương Sao vàng.

Nguyễn Đình Chiểu
Phố: dài 430m, từ phố Trần Nhân Tông đến phố Tô Hiến Thành, chạy theo cạnh phía đông công viên Thống Nhất. Đất thôn Thiền Quang và Thể Giao, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc hai phường Nguyễn Du và Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc là đường D (voie D). Thời tạm chiếm là đường 296 (gồm cả đoạn đầu phố Nguyễn Bỉnh Khiêm). Sau hoà bình đặt tên này.
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888): tục gọi Đồ Chiểu, người làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh); quê gốc Thừa Thiên – Huế. Khi ông đang học ở Huế, sắp thi hội thì mẹ mất (1848), ông khóc thương mà bị mù, trở về Gia Định chịu tang rồi mở trường dạy học. Pháp chiếm Gia Định, ông lánh về Bến Tre, ủng hộ Trương Định, viết nhiều thơ văn cổ vũ nhân dân chống Pháp, không chịu hợp tác với địch, ông còn làm thuốc cứu dân. Tác giả các truyện Nôm nổi tiếng: Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu và Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Nguyễn Đức Cảnh
Phố: dài 700m; từ đường Trương Định vào làng Tương Mai, đến chỗ Xí nghiệp Điện cơ Thống Nhất. Đất làng Tương Mai, tổng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì cũ. Sau thuộc phường Tương Mai, quận Hai Bà Trưng, từ 2004 thuộc quận Hoàng Mai. Tên mới đặt năm 1994.

Nguyễn Đức Cảnh (1908 - 1932): cán bộ tiền bối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông sinh tại Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Học thành chung ở Nam Định. 1926 ra dạy học ở phố Bạch Mai, Hà Nội và làm thợ sắp chữ cho Nhà in Lê Văn Tân, giác ngộ cách mạng, tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. 1927 sang huấn luyện ở Quảng Châu, về nước cùng Chi bộ Hàm Long thành lập Đông Dương Cộng sản đảng ở 312 Khâm Thiên (6- 1929). Đại biểu chính thức của Hội nghị thành lập Đảng (1930), Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ. Tháng 4-1931 bị bắt ở Vinh, Pháp giam ông tại Hoả Lò, toà đề hình xử ông án tử hình. Ngày 31 -7-1932, ông bị xử chém tại nhà lao Hải Phòng. Đến năm 2007 mới tìm thấy hài cốt ông ở Hải Phòng.

Nguyễn Đức Thuận
Đường: dài 3km; từ đường Nguyễn Văn Linh - ngã ba quốc lộ 5 với quốc lộ 1B - đến ngã ba Kiên Thành - Trâu Quỳ (lối rẽ vào khu công nghiệp vừa và nhỏ huyện Gia Lâm). Vốn là một đoạn của quốc lộ 5, nay thuộc thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm. Tên mới đặt tháng 8-2005.
Nguyễn Đức Thuận (1916 -1985): tên chính là Bùi Phong Tự, quê ở xã Bản Ngữ, huyện Vụ Bản, Nam Định; nhà nghèo, lớn lên phải ra Hà Nội làm thợ. Năm 1937, ông tham gia Đảng Cộng sản, làm Bí thư chi bộ, tham gia Thành ủy, phụ trách phong trào công nhân. Năm 1940, ông bị địch bắt, kết án khổ sai, đày đi Sơn La, rồi đưa ra Côn Đảo. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được đón về đất liền, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, sau tham gia Xứ ủy Nam Bộ. Kháng chiến toàn quốc, ông là Bí thư Khu ủy khu VII, Phó bí thư Xứ ủy Nam Bộ, Trưởng ban mặt trận, Phó chủ tịch mặt trận Nam Bộ. Từ 1951, ông hoạt động bí mật ở vùng Sài Gòn - Chợ Lớn. 1956 bị bắt giam tại Sở Thú Sài Gòn, P42... bị tra tấn vô cùng dã man, ông vẫn giữ vững chí khí chiến đấu của người cộng sản, địch lại đày ông ra Côn Đảo. Năm 1964 ra khỏi nhà tù đế quốc, ông ra vùng tự do rồi ra Bắc, làm nhiều công tác quan trọng của Đảng, Mặt trận... 1980 – 1985, ông là Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam, Ủy viên thường vụ Liên hiệp công đoàn thế giới, ông còn là đại biểu Quốc hội từ khóa IV đến khóa VII, Ủy viên Ủy ban Thường vụ quốc hội, Ủy viên Hội đồng nhà nước, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1976 -1982). Truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang năm 2007.

Nguyễn Gia Thiều
Phố: dài 350m; từ phố Quang Trung đến phố Trần Bình Trọng, cắt ngang qua phố Liên Trì. Đất thôn Liên Thuỷ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là phố Bôniphaxi (rue Bonifacy). Sau Cách mạng đặt tên là phố Ôn Như Hầu. Sau hoà bình đổi lại tên thật của nhà thơ này.
Nguyễn Gia Thiều (1741-1798): tước Ôn Như hầu, người làng Liễu Ngạn, huyện Siêu Loại (nay là Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Ông sinh trưởng trong một gia đình quý tộc, từ bé học trong phủ chúa Trịnh, thông minh, hiểu nhiều ngành nghệ thuật: nhạc, hoạ, kiến trúc… 18 tuổi làm Hiệu úy rồi thăng Tổng binh, trấn thủ Hưng Hoá, được phong tước hầu. Tây Sơn thống nhất đất nước, ông về làng ẩn dật rồi mất. Tác giả Cung oán ngâm khúc nổi tiếng.

Nguyễn Hiền
Phố: dài 900m; từ ngõ 39 Lê Thanh Nghị (chợ tạm Bách Khoa) đến số 46 Tạ Quang Bửu, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng. Tên mới đặt: 12-2006.
Nguyễn Hiền (1235 - 1255) quê ở làng Dương A, huyện Thượng Nguyên, nay thuộc xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, lúc nhỏ rất thông minh, nổi tiếng thần đồng. Năm 1247, nhà Trần mở khoa thi lần đầu lấy đỗ tam khôi. Ông làm bài phú rất hay, Ban giám khảo cho đỗ trạng Nguyễn. Vua Trần phê vào hai 2 chữ “Thưởng trí”. Lúc vua Trần mở tiệc yến mừng các vị tân khoa thấy cậu bé 12 tuổi mà đỗ đầu, bèn hỏi học ai mà giỏi vậy, ông đáp: thần không phải sinh ra đã biết, nhưng văn thì tự lượng mà hiểu, chữ nào còn ngờ thì hỏi các sư, không ai dạy cả. Vua cho là vô lễ bắt về học lễ vài năm sẽ cho làm quan. Có sứ giả nhà Tống sang đưa bài thơ thử tài triều đình, không ai hiểu, phải cho gọi Trạng Hiền đến. Liếc qua, Trạng bảo chữ “điền “. Sứ Tống phục tài. Vua giữ lại làm quan, thăng đến chức Thượng thư Bộ Công.

Nguyễn Hoàng Tôn
Đường: dài 700m; từ đường Lạc Long Quân chạy cạnh trụ sở Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ đến giáp địa phận huyện Từ Liêm. Đất đai hai xã Phú Thượng và Xuân La huyện Từ Liêm trước, nay là đường giáp ranh giữa hai phường Xuân La và Phú Thượng, quận Tây Hồ. Tên mới đặt tháng 1-2002.
Nguyễn Hoàng Tôn (1914 -1932): tên thật là Phạm Hữu Mẫn, người làng Trích Sài cạnh hồ Tây, sinh trong một gia đình dân nghèo thành thị. 15 tuổi tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. 1930 gia nhập Đảng Cộng sản, là một trong những người thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hà Nội 4 -1-1931. Ông xuống Hải Phòng hoạt động trong bộ phận lãnh đạo phong trào vùng mỏ của Xứ ủy Bắc Kỳ. Tháng 4-1931, Pháp vây cơ quan Xứ uỷ, ông nổ súng bảo vệ cán bộ, bị bắt và kết án tử hình (tháng 10-1931). Năm tháng sau, người cộng sản trẻ tuổi này bị xử chém ở thành phố cảng.

Nguyễn Huy Tự
Phố: dài 280m; từ đường Trần Khánh Dư đến phố Trần Thánh Tông, nối với phố Yécxanh. Đất phường Yên Xá, Tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Số nhà 4 là đình làng Cơ Xá Nam thờ Lý Thường Kiệt, di tích xếp hạng năm 2000. Yên Xá (An Xá) có lên khác là Cơ Xá. Nay thuộc phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc là phố Côngxtăng Mati (rue Constant Mathis). Sau Cách mạng gọi là phố Nguyễn Thị Kim. Thời tạm chiếm là phố Nguyễn Lai Thạch (cũng chỉ là Nguyễn Huy Tự). Năm 1964 sửa lại theo tên chính.
Nguyễn Huy Tự (1743 -1790): người làng Trường Lưu, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), đậu hương cống năm 1760, dạy thái tử Trịnh Sâm, làm quan đến chức Đốc đồng Hưng Hoá và trấn Sơn Tây. Thăng Long có loạn kiêu binh (1786) ông cáo ốm từ quan về quê. Thời Quang Trung, được Ngô Thì Nhậm tiến cử, ông vào Phú Xuân làm Thị lang ít năm rồi mất ở quê nhà. Tác giả truyện Nôm bằng thơ: Hoa tiên.

Nguyễn Huy Tưởng
Đường: dài 950m; từ ngã ba phố Vũ Trọng Phụng, chạy phía sau trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, song song với đường Nguyễn Trãi, qua ngã tư với đường Nguyễn Tuân, đến đường bê tông Thanh Xuân - năm 2001 đặt tên là đường Khuất Duy Tiến. Đất xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm. Nay Nhân Chính thành phường thuộc quận Thanh Xuân. Tên mới đặt năm 1995, chỉ mới đến đường Nguyễn Tuân. Tháng 7-1996 Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định cho kéo dài đoạn tiếp đến đường Khuất Duy Tiến.
Nguyễn Huy Tưởng (1912 -1960): nhà văn Việt Nam hiện đại, người làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội). Lúc đi học đã tham gia phong trào yêu nước của học sinh Hải Phòng, làm thư ký nhà Doan, rồi về Hà Nội viết văn để sống. Tác phẩm của ông phần lớn đều lấy đề tài lịch sử, đăng lần đầu ở tạp chí Tri tân (1942) là tiểu thuyết: Đêm hội Long Trì. 1943 tham gia Văn hoá cứu quốc, đại biểu dự Hội nghị Tân Trào (8-1945). Sau Cách mạng, hoạt động văn nghệ. Kháng chiến, ông lên Việt Bắc góp phần thành lập và xây dựng Hội Văn nghệ Việt Nam. Hoà bình lập lại, ông thành lập và là giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng. Ông là nhà văn Hà Nội viết nhiều tác phẩm xuất sắc về Hà Nội, nhất là tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô và kịch bản Luỹ Hoa. Được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh (1996).

Nguyễn Hữu Huân
Phố: dài 450m; từ đường Trần Nhật Duật đến phố Lò Sũ, cắt ngang qua các phố Hàng Mắm, Hàng Thùng. Đất các thôn Trừng Thanh Trung Mộc Sà, Mỹ Lộc, Sơ Trang (tổng Tả Túc), Ưu Nhất, Trung Nghĩa, Đông An (tổng Hữu Túc), huyện Thọ Xương cũ. Ở nhà số 77 có đình, đền Trang Lâu, số 2A là đình Ưu Nghĩa. Nay thuộc phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm. Tên dân gian là phố Bè Thượng. Thời Pháp thuộc gọi là phố Đê (rue de ta Digue) (1900). Sau đổi là phố Bắc Ninh. 1940 đổi là phố Thống Chế Pêtanh (rue Maréchal Pétain). Thời tạm chiếm: phố Phan Thanh Giản; từ 1964 mang tên này.
Ngõ: cùng tên, ở phố này rẽ vào thôn Thanh Yên cũ, đi thông ra đường Trần Nhật Duật, nơi có bến tàu thủy của nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi trước đây. Thời Pháp thuộc, ngõ có tên là phố Hilơrê (rue Hilleret). Thời tạm chiếm đặt là phố Bạch Thái Bưởi. Từ 1964 thành ngõ mang tên phố Nguyễn Hữu Huân
Nguyễn Hữu Huân (1816 -1875): người làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Tiền Giang), đỗ thủ khoa trường Gia Định năm 1852, nên thường gọi là Thủ khoa Huân, làm Giáo thụ. Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ, ông khởi nghĩa chống lại và là nghĩa quân chống Pháp kiên cường và bền bỉ nhất. 1863, ông nổi dậy đánh Mỹ Tho nhưng thất bại, bị triều Nguyễn bắt giao cho Pháp, đày ông sang đảo Rêuyniông (châu Phi). 1868 được trả về nước, ông phối hợp với Âu Dương Lâu tiếp tục đánh Pháp. 1875 bị bắt lần thứ ba, ông cắn lưỡi tự tử khi địch đem ông xử chém, trên bờ sông Tiền.

Nguyễn Hữu Thọ
Phố: dài 1,8km; từ cầu Tiên (Đường Giải Phóng) đến ngã tư nhà X2 Bắc Linh Đàm, thuộc phường Đại Kim, quận Hoàng Mai. Tên mới đặt: 12-2006.
Nguyễn Hữu Thọ (1910 -1996): sinh tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An, 1930 học luật ở Paris. 1948 tham gia Mặt trận Liên Việt, 1949 được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Những năm 50 ông hoạt động tích cực trong phong trào trí thức phản đối sự can thiệp của Mỹ vào Đông Dương, bị địch bắt giam 2 lần (1950 -1952 và 1954). Được tự do, ông hoạt động trong phong trào đòi hoà bình thống nhất đất nước. 1960, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Tổ quốc thống nhất, ông là đại biểu Quốc hội các khóa VI, VII, VIII, Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước, Quyền chủ tịch nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là một trí thức lớn, giàu lòng yêu nước, hoạt động cách mạng liên tục 50 năm. Ông mất tại thành phố Hồ Chí Minh. Được tặng thưởng huân chương sao vàng.

Nguyễn Khả Trạc
Phố: dài 400m; từ số 160 phố Mai Dịch (trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội) đến số 20 Ngách 6/58 phố Doãn Kế Thiện, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy. Đặt tên tháng 6-2008.
Nguyễn Khả Trạc (1598 -1672): Tên chính là Nguyễn Văn Trạc, quê xã Mai Dịch, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây (nay thuộc phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy), chữ Khả đệm là do vua Lê Thần Tông ban tặng. Ông đỗ tiến sĩ khoa Tân Mùi (1631) được bổ làm quan đạo Hải Dương, sau thăng Hiến sát phó sứ Nghệ An. Ông còn được cử giữ nhiều chức quan trọng như Đề hình giám sát ngự sử, Hữu thị lang bộ Hộ, tước Diễn Thọ bá, Tả thị lang bộ Lại, thị lang bộ Binh. Về nghỉ ở quê nhà, ông làm nhiều việc công đức như mở chợ, dựng bia, được dân làng quý trọng. Khi mất ông được phong Thượng thư bộ Hộ, tước Liêm quận công, được xã Mai Dịch tôn làm thần; phối thờ với Thượng đẳng thần Lý Phật Tử. Tại phường Mai Dịch còn nhà thờ ông, đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1995.

Nguyễn Khang
Đường: dài 2,1km; từ đường Cầu Giấy đi xuôi theo bờ tây sông Tô Lịch, đến đường Trần Duy Hưng, song song với đường Láng. Đất xã Yên Hoà (Kẻ Cót) và Trung Hoà, huyện Từ liêm; nay thuộc hai phường Trung hoà, Yên Hoà, quận Cầu Giấy. Tên mới đặt tháng 7-2001.
Nguyễn Khang (1919 -1976): sinh tại xã Minh Hưng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông theo cách mạng từ sớm, thoát ly làm ấn loát cho Xứ ủy Bắc Kỳ ở huyện nhà (1937-1938). Chuyển lên Hà Nội hoạt động từ năm 1939, phụ trách Đoàn Thanh niên Phản đế liên tỉnh, tham gia Thường vụ Thành ủy Hà Nội. 1941 ông bị Pháp bắt đày đi Sơn La. 1944 vượt ngục về tham gia Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, kiêm Bí thư Hà Nội, phụ trách khu an toàn của Đảng trong vùng Hà Nội - Hà Đông - Sơn Tây. Ông còn làm biên tập báo Cứu quốc, phụ trách báo Hồn nước. Tháng 8-1945 là Chủ tịch Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội, chỉ đạo trực tiếp cuộc biểu tình giành chính quyền ngày 19-8. Kháng chiến toàn quốc, ông là Chủ tịch ủy ban Kháng chiến - Hành chính Liên khu I, Bí thư Liên khu Việt Bắc. 1951 được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 1960 là Ủy viên Trung ương chính thức. Ông là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại Trung Quốc, Mông Cổ (1957-1960), sau đó giữ chức Bộ trưởng Phủ Thủ tướng đến năm 1976.

Nguyễn Khánh Toàn
Đường: dài 1,4km; từ cầu Dịch Vọng gặp đầu đường Nguyễn Văn Huyên, kề bên công viên hồ Nghĩa Đô, đến phố Trần Đăng Ninh. Đất 2 xã Dịch Vọng, Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm trước đây, nay là hai phường cùng tên thuộc quận Cầu Giấy. Tên mới đặt tháng 8-2005.
Nguyễn Khánh Toàn (1905 -1993): sinh ở Nghệ An, nhưng quê gốc ở huyện Hương Trà, Thừa Thiên - Huế, tham gia phong trào đòi thả nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, nên bị Pháp đuổi học khỏi trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội (1925). Ông vào Sài Gòn viết báo, ra báo Le nhà quê đăng nhiều bài chỉ trích chế độ cai trị thực dân nên bị chúng bắt giam. Ra tù ông sang Pháp học và vận động Việt kiều yêu nước. 1930, học trường Đảng Liên Xô, nghiên cứu sinh trường Đại học Phương Đông; 1931, ông vào Đảng Cộng sản. Sau Cách mạng tháng Tám, ông trở về nước, làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo Ủy ban Khoa học xã hội gần 20 năm, được phong viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm khoa học Cộng hòa dân chủ Đức (1975), Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (1976). Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn là tác giả của nhiều tác phẩm về khoa học xã hội và nhân văn tập hợp trong tuyển tập: Cách mạng và khoa học xã hội, vấn đề dân tộc trong cách mạng vô sản. Ông đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.

Nguyễn Khắc Cần
Phố: dài gần 300m; từ phố Tràng Tiền đến phố Lý Thường Kiệt, cắt ngang qua phố Hai Bà Trưng và phố Phạm Sư Mạnh. Đất của Tràng đúc tiền Bảo Toàn cục đời Nguyễn. Nay thuộc phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc gọi là phố Đuytơrơi đê Ranh (rue Duteruil des Rhins). Sau Cách mạng gọi là phố Yên Đổ. Thời tạm chiếm là phố Nguyễn Khuyến. Từ năm 1964 đổi tên này.
Nguyễn Khắc Cần (1875 -1913): người làng Yên Viên, huyện Gia Lâm, đỗ nhị trường, làm giáo học, tham gia phong trào Đông Du và Việt Nam Quang phục hội. Tháng 4-1913 cùng với Nguyễn Văn Túy ném tựu đạn vào khách sạn Hà Nội (góc phố Tràng Tiền và Nguyễn Khắc Cần bây giờ) giết chết hai sĩ quan Pháp. Bị bắt ở biên giới và bị Pháp xử tử hình ngày 24 -9 -1913.

Nguyễn Khắc Hiếu
Phố: dài 230m; chạy dọc chính giữa bán đảo Ngũ Xã ở bên bờ đông hồ Trúc Bạch, cắt ngang qua phố Ngũ Xã. Đất thôn Ngũ Xã, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Trúc Bạch, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc là đường 103 (voie l03). Sau Cách mạng gọi là đường Tản Đà. Thời tạm chiếm thay tên chính của nhà thơ này.
Nguyễn Khắc Hiếu (1889 - 1939): hiệu Tản Đà, người làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay là huyện Ba Vì, Hà Nội). Ông gốc thuộc dòng họ khoa bảng lâu đời ở làng Lủ (nay thuộc phường Đại Kim, quận Hoàng Mai) của Nguyễn Công Thể, Nguyễn Văn Siêu… Ông là nhà thơ, nhà báo, những bài viết đầu tiên đăng ở Đông Dương tạp chí (1915). Ông chủ trương tờ An Nam tạp chí, sống chết nhiều lần từ 1926 đến 1938. Tác giả nhiều tập thơ văn: Thơ Tản Đà, Khối tình con, Giấc mộng con, Thề non nước, Tản Đà Tùng văn…Mất tại Cầu Mới - Ngã Tư Sở (nay là số 47 đường Nguyễn Trãi) ngày 7-6-1939.

Nguyễn Khắc Nhu
Phố: dài 250m; từ dốc Hàng Than đến phố Phó Đức Chính, cắt ngang qua đầu dốc phố Hàng Bún. Đất thôn Yên Ninh Hạ, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc hai phường: Nguyễn Trung Trực, Trúc Bạch, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc gọi phố Tiền Quân Thành. Sau Cách mạng là phố Xứ Nhu. Thời tạm chiếm gọi lại đúng họ tên ông.
Nguyễn Khắc Nhu (1882 -1930): người làng Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; đỗ đầu xứ nên thường gọi là Xứ Nhu. Ông có tinh thần yêu nước, lập nhóm Việt Nam dân quốc chống Pháp; đến cuối 1927, nhập với Việt Nam Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học và thành một lãnh tụ của đảng này. 1929 tham gia bạo động đánh đồn binh của Pháp ở Hưng Hoá, Lâm Thao; 2-1930 khởi nghĩa Yên Bái thất bại, ông bị Pháp bắt, đã đập đầu vào sàn nhà lao Hưng Hoá tự vẫn.

Nguyễn Khoái
Đường: dài 1,2km; từ phố Lê Quý Đôn (dốc Vân Đồn), đến phố Trần Khát Chân. Đây là một đoạn đê sông Hồng, vốn là bức tường bao vùng giữa thành Thăng Long xưa. Đất hai thôn Lương Xá và Yên Xá (sau nhập thành Lương Yên), tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc: Lúc đầu gọi là đê Mới (Digue Nouvelle), sau gọi là bến Rêna (Quai Rheinart). Tên dân gian gọi là phố Lò sát sinh. Sau Cách mạng mang tên này.
Nguyễn Khoái (thế kỷ XIII): tướng đời Trần, tham gia chỉ huy cả hai lần chống quân Mông-Nguyên, cùng với Trần Quốc Toản và Chiêu Thành Vương đánh thắng trận Tây Kết (1285), cầm quân Thánh Dực mai phục cửa sông Bạch Đằng, bắt được tướng Ô Mã Nhi (1288). Ông được phong Liệt hầu, ban thái ấp ở Khoái Lộ (nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên).

Nguyễn Khuyến
Phố: dài 530m; từ phố Lê Duẩn đến phố Văn Miếu. Đất thôn Văn Mặc và Thanh Ngô, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Văn Miếu, quận Đống Đa, phố có hai Ngõ: Yên Sơn và đường 522 sau là ngõ Xưởng Đúc (nay là ngõ 115). Số 128 là chùa Bà Ngô tức Ngọc Hồ tự với truyền thuyết vua Lê Thánh Tông gặp tiên, di tích đã xếp hạng năm 1993. Thời Pháp thuộc là phố Sinh Từ (vì trong ngõ Hàng Đũa có sinh từ của Kinh lược sứ Nguyễn Hữu Độ). Sau Cách mạng là phố Bùi Huy Bích. Thời tạm chiếm gọi lại là Sinh Từ, từ năm 1964 đổi thành tên này.
Nguyễn Khuyến (1835 - 1909): hiệu Quế Sơn, người làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông đỗ đầu ba trường nên được gọi Tam Nguyễn Yên Đổ. Làm quan triều Nguyễn ở nhiều nơi, sau tới chức Học sĩ sung Quốc sử quán Toản tu. Triều Nguyễn đầu hàng Pháp, ông cáo quan về quê. Nhà thơ hiện thực và trào lộng nổi tiếng, để lại nhiều thơ hay.

Nguyễn Lương Bằng
Phố: dài 680m; từ Ô Chợ Dừa đến chạc ba nối phố Tây Sơn và đường vào khu tập thể Quân đội Nam Đồng - nay là phố Hồ Đắc Di. Đất trại Nam Đồng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận, nay thuộc các phường Ô Chợ Dừa, Nam Đồng, Quang Trung, quận Đống Đa. Hai bên phố có nhiều ngõ mang số nhà, trong đó có ngõ Đình Đông (số 24), ngõ Chùa Nam Đồng (64), ngõ Nhà thờ (nay là đường vào bệnh viện Đống Đa - số 180), ba ngõ Xã Đàn. Đình Nam Đồng ở số 73, thờ Lý Thường Kiệt, di tích lịch sử đã xếp hạng năm 1991. Thời Pháp thuộc là phố Nam Đồng, Sau Cách mạng là đường Đống Đa, thời tạm chiếm gọi lại là Nam Đồng, từ 1985 đổi tên này.
Nguyễn Lương Bằng (1904 -1979): một trong những cán bộ cộng sản tiền bối, thường gọi bí danh là Sao Đỏ. Ông quê xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Hai mươi tuổi đã tham gia cách mạng, bị Pháp bắt giam nhiều lần, từng hai lần vượt ngục. Sau Cách mạng tháng Tám, ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng ban Kiểm tra của Trung ương Đảng, Đại sứ Việt Nam đầu tiên tại Liên Xô, Tổng Thanh tra của Chính phủ, đại biểu Quốc hội khóa II, IV, V, Phó Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông là tấm gương sáng và mẫu mực về đạo đức cách mạng của người đảng viên cộng sản. Đã được tặng thưởng huân chương sao vàng.

Nguyễn Ngọc Nại
Phố: dài 680m; từ phố Hoàng Văn Thái đến phố Vương Thừa Vũ. Đất sân bay Bạch Mai trước đây, nay là khu của các gia đình quân nhân, thuộc phường Khương Mai, quận Thanh Xuân. Trước khi có tên chính thức, dân tự đặt: đường Đông Tây 1. Tên mới đặt tháng 1-1998.
Nguyễn Ngọc Nại (? - 1947): Quê xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (từ 2004 xã này thành phường của quận Long Biên), tiểu đội trưởng liên lạc đội du kích Hồng Hà, thuộc tự vệ Tứ Tổng (Tứ Liên, quận Tây Hồ), chỉ huy trận cản địch để Trung đoàn Thủ đô rút ra khỏi Hà Nội đêm 17 rạng 18 - 2 - 1947. Trong trận đánh ở bãi Giữa, ông hy sinh cùng với 9 đồng đội sau khi cho nổ quả tựu đạn cuối cùng.



Nguyễn Ngọc Vũ
Đường: dài 1,2km; nối tiếp phố Nguyễn Khang, đi xuôi về phía nam, bên bờ tây sông Tô Lịch, đến phố Quan Nhân chỗ cầu Mọc. Chạy trên đất làng Trung Kính, tổng Dịch Vọng, phủ Hoài Đức trước kia, sau thuộc xã Trung Hoà, huyện Từ Liêm; nay là phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy. Tên mới đặt tháng 7- 2001.
Nguyễn Ngọc Vũ (1908 -1932): còn có tên là Phan, Phương, Lục. Ông quê thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sinh tại phố Khâm Thiên trong một gia đình dân nghèo. Năm 1927, gia nhập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Tháng 6-1929, ông được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản đảng, sau đó tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành bộ Hà Nội của Đông Dương Cộng sản đảng. Tháng 3-1930, thành lập Thành ủy, được cử vào Ban Chấp hành lâm thời đảng bộ Hà Nội do Đỗ Ngọc Du làm Bí thư lâm thời. Tháng 6-1930, Nguyễn Ngọc Vũ được cử làm Bí thư chính thức đầu tiên của Thành ủy Hà Nội. Ngày 6-12-1930, cơ sở vỡ, Nguyễn Ngọc Vũ bị Pháp bắt, chúng tra tấn dã man song ông vẫn trung thành không khai. Đầu năm 1932, ông hy sinh tại nhà tù Hoả Lò. Ông được truy tặng bằng khen Tổ quốc ghi công (8-2000).

Nguyễn Như Đổ
Phố: dài 90m; từ phố Trần Quý Cáp đến phố Ngô Sĩ Liên song song với phố Y Miếu. Đất thôn Ngự Sử, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Văn Miếu, quận Đống Đa. Thời Pháp thuộc là đường 237, sau đổi là phố 225. Sau Cách mạng gọi phố Tế Sinh vì có nhà trẻ từ thiện. Thời tạm chiếm gọi là đường 225. Tên mới đặt năm 1994.
Nguyễn Như Đổ (1424 -1526) người làng Đại Lan (nay thuộc xã Duyên Hà), huyện Thanh Trì. Đỗ đầu khoa thi Hội 1442, làm quan Viện Hàn lâm thời Lê, đi sứ sang nhà Minh nhiều lần, thăng tới chức Thượng thư bộ Lại, bộ Lễ; Thừa chỉ Học sĩ thời Hồng Đức, rồi giữ chức Tế tử Quốc Tử Giám. Ông thọ 102 tuổi, làm quan qua tám triều vua nhà Lê.

Nguyễn Phạm Tuân
Phố: dài 155m; từ phố Ông Ích Khiêm đến phố Ngọc Hà, nhiều đoạn hẹp như ngõ. Đất đồn Hữu Quân thời Nguyễn. Nay thuộc phường Điện Biên, quận Ba đình. Thời Pháp thuộc là đường 143 (Voie 143). Sau Cách mạng gọi phố Hàm Nghi. Thời tạm chiếm đặt tên này.
Nguyễn Phạm Tuân (1842 -1887): người xã Xuân Canh, huyện Đông Ngàn (nay là huyện Đông Anh, Hà Nội) vào cư ngụ ở Quảng Bình, đỗ cử nhân 1873, làm Tri phủ Đức Thọ (tỉnh Hà Tĩnh). Khi Pháp đánh chiếm thành Huế (1885), hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông mộ quân khởi nghĩa, từng đánh thành Đồng Hới, rồi đem nghĩa quân đi theo vua Hàm Nghi. Năm 1887, ông bị Pháp bắt và hy sinh trong tù.

Nguyễn Phong Sắc
Đường: dài 1,2km; từ đường Hoàng Quốc Việt đến ngã ba Cầu Giấy - Xuân Thuỷ, đi qua trước cửa Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Đất các xã Cổ Nhuế, Nghĩa Đô và Dịch Vọng, huyện Từ Liêm trước. Nay thuộc các phường Nghĩa Tân. Dịch Vọng, Quan Hoa, quận Cầu Giấy. Gần đường có di tích đình Hoàng của xã Cổ Nhuế được xếp hạng năm 1994. Tên mới đặt năm 1990.
Nguyễn Phong Sắc (1902 - 1931): tên thật là Nguyễn Văn Sắc người phố Bạch Mai, là người tham gia lập chi bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Hà Nội, một trong bảy người thành lập chi bộ Cộng sản đầu tiên ở phố Hàm Long (3-1929). Ông được Đảng cử đi chỉ đạo phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh (1930). Tháng 5-1931 trong một chuyến công tác về Hà Nội, ông bị mật thám Pháp bắt rồi bắn ông ở Cửa Hội (Nghệ An) ngày 25-5-1931.

Nguyễn Phúc Lai
Phố: dài 370m; từ đường La Thành - xế cổng trường Đại học Văn hoá - đi chéo xuống dốc vào làng Hoàng Cầu, đến hồ cá Đống Đa. Nay thuộc phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa. Tên mới đặt tháng 7-1999.
Nguyễn Phúc Lai (1928 - 1947): quê xã Chi Long, huyện Nam Xương (nay là Lý Nhân), tỉnh Hà Nam. Ông sống ở Hà Nội, nhập ngũ Vệ quốc đoàn tháng 4-1946. Kháng chiến toàn quốc 19-12-1946, ông là tiểu đội trưởng thuộc trung đội 1, đại đội 2, tiểu đoàn 56, trực tiếp chiến đấu trên địa bàn Liên khu III. Ngày 6-1-1947 quân Pháp tấn công nống ra phía tây, bao vây làng Giảng Võ. Nguyễn Phúc Lai cùng đồng đội chiến đấu dũng cảm chặn địch trên đê La thành và cạnh làng Giảng Võ dùng bom ba càng đánh xe tăng địch và hy sinh, trở thành liệt sĩ của Hà Nội trong 60 ngày đêm chống Pháp.

Nguyễn Quang Bích
Phố: dài 120m; từ phố Phùng Hưng đến phố Nguyễn Văn Tố. Đất thôn Yên Trung Thượng, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là phố Phạm Phú Thứ (bao gồm cả phố Hội Tin Lành). Thời tạm chiếm: ngắt ra làm hai phố. Từ 1964 đổi tên phần phố Phạm Phú Thứ ra Nguyễn Quang Bích.
Nguyễn Quang Bích (1832 -1890): vốn họ Ngô, tự Hàm Huy, hiệu Ngư Phong, người làng Trình phố, huyện Chân Định (nay là Kiến Xương), tỉnh Thái Bình, đỗ đình nguyên (1868), làm Tuần phủ Hưng Hoá. Pháp chiếm Bắc Kỳ (1882), ông tổ chức nghĩa quân chống Pháp gần 10 năm trời, gây nhiều tổn thất cho địch. Năm 1891, ông lâm bệnh, mất ở vùng núi Tôn, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Tác giả Ngư Phong thi văn tập.

Nguyễn Quý Đức
Phố: dài 660m; từ đường Nguyễn Trãi (chỗ cạnh chợ Thanh Xuân), chạy qua trường Trung học cơ sở Việt Nam - Angiêri, đến chỗ gặp đường vào Phân viện Hà Nội của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đất xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm trước đây. Nay thuộc phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân. Tên mới đặt tháng 1-1999.
Nguyễn Quý Đức (1648 -1720): hiệu đường Hiên, tự Thể Nhân; người làng Thiên Mỗ, phủ Hoài Đức (nay là xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm). Ông đậu thám hoa năm 1676, làm đến Thượng thư, Tham tụng, tước Liêm quận công; từng đi sứ Trung quốc, đồng biên soạn sách Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên; có công tu tạo Văn Miếu - Quốc Tử Giám, dựng thêm bia tiến sĩ, dạy trường Giám 10 năm. Ông là một tể tướng công minh, khoan hậu, một nhà giáo nghiêm túc, một nhà chính trị, ngoại giao tài giỏi, nhà sử học uyên bác và còn là một nhà thơ, tác giả Thi châu tập.

Nguyễn Quyền
Phố: dài 260m; từ phố Trần Bình Trọng (góc tây nam hồ Thiền Quang), đến đường Lê Duẩn. Đất thôn Hữu Lễ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ, nay thuộc phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc là đường 170B (voie 170B). Sau Cách mạng là phố Huấn Quyền. Thời tạm chiếm đổi lại cho đúng họ tên.
Nguyễn Quyền (1869 -1941): người làng Thượng Trì, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; đỗ tú tài năm 1897, làm Huấn đạo Lạng Sơn nên thường gọi là Huấn quyền. Ông là một trong những sáng lập viên trường Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) và làm Giám học. Thực dân Pháp khủng bố, đưa ông ra tòa án xử tù chung thân, đày ra Côn Đảo; sau về an trí ở Bến Tre, rồi mất.

Nguyễn Sơn
Phố: dài 1,5km; từ đầu công viên Gia Lâm đến cổng sân bay Gia Lâm. Đất xã Bồ Đề và xã Gia Thụy, huyện Gia Lâm trước, sau thuộc thị trấn Gia Lâm, huyện Gia Lâm. Nay thuộc phường Ngọc Lâm, quận Long Biên.
Nguyễn Sơn (1908 - 1956): tên thật là Vũ Nguyên Bác, người xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm. Tham gia cách mạng từ sớm, 1926 dự lớp huấn luyện của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội do Nguyễn Ái Quốc mở ở Quảng Châu. Sau vào trường Quân sự Hoàng phố, tham gia Vạn lý trường chinh trong Hồng quân Trung Hoa với tên là Hồng Thủy, làm Ủy viên Chính phủ Công nông xô viết Trung Quốc. 1945 về nước, ông làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam, Cục trưởng Cục Quân huấn, Tư lệnh kiêm Chính Ủy Liên khu IV. 1948 được phong hàm Thiếu tướng. 1950, trở lại Trung Quốc công tác ở Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng. Ông viết nhiều tài liệu phổ biến tri thức quân sự. Năm 1956 ông bị bệnh nặng, về nước và mất tại Hà Nội. Được phong là “Lưỡng quốc tướng quân”.

Nguyễn Thái Học
Phố: dài gần 1,7km; từ ngã năm Cửa Nam đến phố Sơn Tây, chạy qua phía sau Văn Miếu. Vốn là đường chạy trên hào và tường lũy bao phía nam thành Thăng Long thời Nguyễn. Đất các thôn: Vĩnh Xương (tổng Tiền Nghiêm). Văn Mặc, Đỉnh Tân, Cổ Thành (tổng Hữu Nghiêm), huyện Thọ Xương và thôn Thanh Ninh (tổng Yên Thành), huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm; hai phường Điện Biên, Kim Mã, quân Ba Đình. Thời Pháp thuộc là phố Đuyvyliê (rue Duvillier). Tên dân gian gọi phố Hàng Đẫy. Sau Cách mạng gọi là phố Phan Chu Trinh. Thời tạm chiếm đổi thành đại lộ Nguyễn Thái Học.
Ngõ: cùng tên, từ phố này đi ngang qua phố Hàng Cháo. Đất thôn Cổ Thành, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Cát Linh, quận Đống Đa. Tên dân gian là ngõ Bảo Anh. Thời Pháp thuộc: đường 206B (voie 206 bis).
Nguyễn Thái Học (1904 -1930): người làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay là Vĩnh Phúc); thủ lĩnh Việt Nam Quốc dân đảng thành lập năm 1927. Sau vụ Đảng này ám sát tên thực dân Badanh (Bazin) ở phố Huế, Pháp đàn áp, Đảng tan vỡ. Tháng 2-1930 ông tổ chức khởi nghĩa Yên Bái, bị thất bại, sau sa vào tay địch ở Chí Linh (Hải Dương). Ngày 17-6-1930, Pháp xử chém ông ở Yên Bái. Hy sinh bất khuất lúc mới 26 tuổi, với lời bất hủ: “Không thành công cũng thành nhân”, ông để lại gương sáng cho lớp thanh niên yêu nước, cách mạng Việt Nam.

Nguyễn Thị Định
Phố: dài 1km; từ toà nhà 18T2 đường Lê Văn Lương đến đường Trần Duy Hưng (số 27), thuộc phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy. Tên mới đặt: 7-2007. Nguyễn Thị Định (1920 -1992): quê ở tỉnh Bến Tre, tham gia cách mạng từ nhỏ, 1938 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. 1960 là Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam (1965 - 1975), được phong quân hàm Thiếu tướng (1974), Ủy viên Trung ương Đảng (từ 1976).
Năm 1980 bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Phó chủ tịch Liên đoàn phụ nữ dân chủ thế giới. Bà là đại biểu Quốc hội từ khoá VI đến khoá VIII, Ủy viên Hội đồng Nhà nước từ 1981, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước từ 1987. Năm 1995, bà được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nguyễn Thị Thập
Phố: dài 800m; từ trạm nước Vinaconex cắt qua phố Hoàng Đạo Thúy đến đường Hoàng Minh Giám, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân. Tên mới đặt: 12-2006.
Nguyễn Thị Thập (1908 - 1996): có tên chính là Nguyễn Thị Ngọc Tốt, quê xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Bà vào Đảng Cộng sản năm 1931, rồi được cử vào Thành ủy Sài Gòn và Xứ ủy Nam Kỳ. 1937, bà lãnh đạo nông dân Long Hưng đấu tranh, bị địch bắt. 1940 ra tù, bà tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Nam Kỳ, 1945 ra Bắc dự Quốc dân đại hội Tân Trào. 1946 bà là Xứ ủy viên Nam Bộ, đại biểu Quốc hội khoá I đến khóa VI, Hội trưởng Hội liên hiệp phụ nữ Nam Bộ. Cuối năm 1954, bà ra Bắc tiếp tục giữ các chức vụ: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch ủy ban thường vụ quốc hội từ khóa III đến khóa VI, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Được thưởng huân chương sao vàng.

Nguyễn Thiện Thuật
Phố: dài gần 220m; từ phố Hàng Khoai đến phố Hàng Chiếu, chạy phía sau chợ Đồng Xuân - Bắc Qua. Đất thôn Tiền Trung, tổng Hậu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là phố Lơpagiơ (rue Lepage). Sau Cách mạng gọi phố Tán Thuật. Thời tạm chiếm đổi lại đúng họ tên này.
Nguyễn Thiện Thuật (1841-1926): người làng Xuân Đào, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, đỗ cử nhân, làm quan đến chức Tán tương Quân vụ tỉnh Hải Dương, nên thường gọi Tán Thuật. Hưởng ứng phong trào Cần Vương. Năm 1885, chỉ huy khởi nghĩa ở khu Bãi Sậy (Hưng Yên), duy trì cuộc chiến đấu đến năm 1889 thì thất bại. Ông trao quyền chỉ huy cho em là Nguyễn Thiện Kế và Đốc Tít, rồi sang Trung Quốc và mất ở Nam Ninh. Đầu năm 2005, hài cốt của ông đã được đưa về an táng tại quê hương ông.

Nguyễn Thiếp
Phố: dài 270m; từ phố Nguyễn Trung Trực đến phố Hàng Khoai, cắt ngang qua các phố Hàng Đậu, Gầm Cầu. Đất thôn Phúc Lâm, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc hai phường Nguyễn Trung Trực (quận Ba Đình) và Đồng Xuân (quận Hoàn Kiếm). Thời Pháp thuộc là phố Đuyrăngtông (rue Duranlon). Sau Cách mạng đổi là phố Nguyễn Mậu Kiến. Thời tạm chiếm mang tên này nhưng thường gọi nhầm là Nguyễn Thiệp.
Nguyễn Thiếp (1723 -1804): tự Khải Xuyên, hiệu La Sơn phu tử; người làng Mật (Nguyệt Áo), huyện La Sơn (nay là Đức Thọ) tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ hương cống năm 1743, nhưng 10 năm sau mới ra làm quan Huấn đạo và Tri huyện Thanh Chương, rồi lui về ở ẩn trên núi Thiên Nhẫn. Vua Quang Trung trên đường ra Bắc giải phóng thành Thăng Long cuối năm 1788 đã dừng lại tìm ông vấn kế phá giặc Thanh. Sau chiến thắng, ông ra làm Viện trưởng Viện Sùng chính, chăm lo việc giáo dục cho triều Tây Sơn.

Nguyễn Thượng Hiền
Phố: dài 250m; từ phố Trần Bình Trọng (bên bờ tây hồ Thiền Quang), đến đường Lê Duẩn ở ngã tư Khâm Thiên. Đất thôn Liên Thủy, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc là phố Mônggơrăng (rue Mongrand). Sau Cách mạng đổi tên này.
Nguyễn Thượng Hiền (1868 -1925): hiệu Mai Sơn, người làng Liên Bạt, huyện Sơn Lãng (nay là Ứng Hoà, Hà Nội); đỗ hoàng giáp năm 1889, bị ép mãi mới chịu ra làm quan ở Quốc sử quán, sau thăng Đốc học Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định. Ủng hộ phong trào Đông Du, ông ra nước ngoài năm 1908, hoạt động trong Việt Nam Quang phục hội cùng với Phan Bội Châu; tổ chức đánh đồn địch ở biên giới Lạng Sơn, Móng Cái, nhưng không thành công. Ông đi tu và mất ở Hàng Châu (Trung Quốc). Ông còn là nhà thơ, tác giả Nam chi tập.

Nguyễn Trãi
Đường: gần 2,2km; từ Ngã Tư Sở đến giáp ranh với thành phố Hà Đông, ở Phùng Khoang. Đây là đoạn quốc lộ 6, trước là đường “Thượng đạo lai kinh” của các trấn xứ Nam về Thăng Long, được nắn thẳng lại. Đất Kẻ Mọc - Nhân Mục, Thượng Đình, Hạ Đình của huyện Thanh Trì cũ. Thôn Phùng Khoang, nay thuộc xã Trung Văn, huyện Từ Liêm có chùa Thanh Xuân được xếp hạng năm 1991. Đường chạy trên đất phường Ngã Tư Sở, quận Đống Đa; các phường, Thượng Đình, Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam, quận Thanh Xuân; qua khu công nghiệp Thượng Đình với nhiều nhà máy cơ khí và hoá chất lớn. Tên mới đặt năm 1980.
Nguyễn Trãi (1380 - 1442): nhà tư tưởng lớn - hiệu Ức Trai; người làng Nhị Khê, huyện Thượng phúc (nay là Thường Tín, Hà Nội), quê gốc ở Chí Linh (Hải Dương), đỗ thái học sinh năm 1400 thời nhà Hồ, làm Chánh trưởng Ngự sử đài. Quân Minh xâm lược, bắt cha ông là Nguyễn Phi Khanh giải về Tàu và giam lỏng ông ở Đông Quan. Ông trốn vào Lam Sơn theo Lê Lợi, dâng sách Bình Ngô, tham gia cuộc bao vây địch ở Đông Quan; giành toàn thắng, theo lệnh vua Lê Thái Tổ viết bài Bình Ngô đại cáo, được coi như bản tuyên ngôn độc lập thứ hai trong lịch sử nước ta. Ông giữ chức Nhập nội Hành khiển, trở thành nhà chiến lược, nhà ngoại giao, nhà tư tưởng văn hoá lớn của dân tộc; để lại nhiều tác phẩm thơ văn mang tính nhân đạo tiêu biểu. Cuối đời bị vu oan, ông về ở ẩn tại Côn Sơn (Chí Lính, Hải Dương), rồi chịu án “Lệ Chi Viên” tru di ba họ. Hai mươi năm sau, Lê Thánh Tông mới minh oan cho ông. Tác phẩm để lại: Dư địa chí, Lam Sơn thực lục, Quân trung từ mệnh tập, Quốc âm thi tập... Năm 1980, Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESSCO) đã tôn vinh Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa thế giới.

Nguyễn Tri Phương
Đường: dài gần 1km; từ phố Phan Đình Phùng đến đường Điện Biên Phủ, vốn là con đường bên trong thành nội cổ, chạy dọc cạnh phía tây thành Hà Nội thời Nguyễn, ở trong khu do quân đội quản lý. Từ đầu năm 2000, đường mở lại cho đi qua. Nay thuộc phường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc gọi là đường Cửa Nam (Route de la Porte Sud). Thời tạm chiếm: phố Trong Thành. Từ 1964 mang tên này.
Nguyễn Tri Phương (1800 -1873): người làng Chi Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế; làm quan triều Nguyễn tới chức Thống đốc Quân vụ, từng cầm quân đánh Pháp xâm lược ở Đà Nẵng (1858), Gia Định (1859) và lập phòng tuyến Chí Hòa chặn địch. Năm 1873, ông làm Kinh lược sứ Bắc Kỳ, chống Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất. Ông bị trọng thương và bị bắt, đã cự tuyệt mọi sự cứu chữa của địch cho đến lúc hy sinh. Tượng ông nay được đặt ở Cửa Bắc thành Hà Nội.

Nguyễn Trung Ngạn
Phố: dài 50m; từ phố Nguyễn Công Trứ (cạnh số 18 rẽ vào), trong xóm có ngách thông sang phố Lò Đúc. Đất thôn Yên Hội, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc là đường 172 (Voie 172).
Nguyễn Trung Ngạn (1289 -1370): tự Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Thông minh từ nhỏ, 15 tuổi đỗ hoàng giáp cùng khoa với Mạc Đĩnh Chi, làm quan ở Ngự sử dài, An phủ sứ Thanh Hoá, Nghệ An, Tào vận sứ lộ Khoái Châu; có tài tổ chức, kinh tế, giỏi văn - sử. Năm 1341 làm Kinh sư Đại doãn, cai quản thành Thăng Long; cùng Trương Hán Siêu soạn bộ Luật hình và Hoàng triều đại điển, tác giả tập thơ Giới Hiên. Về già được triều Trần phong là Thân quốc công. Ở quận Hoàn Kiếm có 7 đình, đền thờ Nguyễn Trung Ngạn.

Nguyễn Trung Trực
Phố: dài gần 170m; từ đường Yên Phụ xuống phố Hàng Than, cắt ngang qua phố Hồng Phúc. Đất thôn Cận Hàn, Yên Thuận, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc là phố Tơrippenbách (Rue Trippenbach). Sau Cách mạng gọi phố Thủ khoa Trực. Thời tạm chiếm đổi lại cho đúng họ tên.
Nguyễn Trung Trực (1838 -1868), người phủ Tân An, tỉnh Định Tường (nay thuộc thị xã Tân An, tỉnh Long An), còn có tên Nguyễn Văn Lịch - một nông dân kiêm ngư nghiệp; hăng hái nổi lên chống Pháp khi chúng đánh chiếm các tỉnh Nam kỳ; từng đánh đắm chiếm hạm Hy Vọng (Espérence) của Pháp trên sông Vàm Cỏ (1861); được giao trấn thủ Hà Tiên. Pháp chiếm xong Nam Kỳ, ông lập căn cứ ở đảo Hòn Chuông tiếp tục chiến đấu cho đến khi bị Pháp bắt và đem hành hình ở Rạch Giá. Ông để lại câu nói nổi tiếng: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”.

Nguyễn Trường Tộ
Phố: dài 640m; từ phố Hàng Than đến phố Trấn Vũ bên hồ Trúc Bạch, cắt ngang qua các phố Hàng Bún, Yên Ninh, Cửa Bắc. Đất các thôn Yên Thành, Yên Ninh, Yên Viên, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc hai phường Nguyễn Trung Trực và Trúc Bạch, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc gọi là phố Giămbe (rue Jambert).
Nguyễn Trường Tộ (1828 -1871): một giáo dân người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; được giám mục người Pháp đưa sang học ở Paris (Pháp). 1861 ông về nước, có kiến thức rộng, muốn cải cách xã hội, chấn hưng đất nước bằng công nghiệp nhưng do triều Tự Đức thủ cựu đã gạt bỏ 58 bản điều trần tiến bộ của ông từ năm 1863 đến năm 1871.

Nguyễn Tuân
Đường: dài 500m; từ phố Nguyễn Huy Tưởng đến đường Nguyễn Trãi. Đất xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm cũ. Nay thuộc phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân. Tên mới đặt năm 1995.
Nguyễn Tuân (1910 - 1987): Nhà văn Việt Nam, người làng Mọc Thượng Đình, sinh tại phố Hàng Bạc, nhưng sống với gia đình thời trẻ ở miền Trung. Làm báo, viết văn, đóng phim từ năm 1930. Nổi tiếng với thể loại tùy bút mang phong cách riêng độc đáo cả trước Cách mạng, trong kháng chiến và sau hoà bình. Tham gia chống Pháp, đi Nam tiến; Thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam; đi với bộ đội dự các chiến dịch Sông Thao, đường số 4. Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị: Thiếu quê hương, Vang bóng một thời, Tóc chị Hoài, Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi… Được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh (1996).

Nguyễn Tư Giản
Phố: dài 300m; từ phố Bảo Linh (số nhà 75) đến ngõ 3 Phúc Tân (số 36) chỗ trường Mầm non Tuổi Hoa, chạy cạnh bờ hữu ngạn sông Hồng, ngoài bãi phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm. Tên mới đặt tháng 6-2008.

Nguyễn Tư Giản (1823 -1890): trước có tên là Văn Phú, tự Tuân Thúc, hiệu Thạch Nông, người làng Du Lâm, tổng Hội Phụ (nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh), vốn gốc dòng họ Lý Đình Bảng. Ông nổi tiếng hay chữ, đỗ tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1844) thời Thiệu Trị, được bổ làm Hàn lâm viện tư soạn, Thăng binh khoa cấp sự trung, Quang lộc tự khanh sung biên nội các sư vụ, rồi làm Hữu thị lang bộ Lại, sung biện lý Đê chính sự vụ Bắc Kỳ. Sau khi đánh tan loạn Tạ Văn Phụng ở An Thái, ông được hàm Hồng lô tự khanh, tham gia sứ bộ sang triều Thanh. Ông có tư tưởng tiến bộ trình bày với triều đình chương trình canh tân tự cường, mở rộng bang giao với phương Tây nhưng không được chấp nhận. 1875 vì bất cẩn, ông bị cách chức ra làm Sơn phòng sứ Chương Mỹ, sau mới được phục chức ông xin về nghỉ. Tác phẩm để lại: Thạch Nông thi văn tập, Thạch Nông Tùng thoại, Yên Thiều thi thảo. Ông còn tham gia duyệt bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục.

Nguyễn Văn Cừ
Đường: dài 2km; từ ngã ba cầu Chui Gia Lâm đến đầu phía bắc cầu Chương Dương. Đường mới mở năm 1985 khi làm cầu Chương Dương, chạy trên đất các xã Gia Thụy, Ngọc Lâm, Bồ Đề, huyện Gia Lâm, sau thuộc thị trấn Gia Lâm, huyện Gia Lâm, từ 1-1-2004 là phường Ngọc Lâm, quận Long Biên. Tên mới đặt năm 1988.
Nguyễn Văn Cừ (1912 -1941): quê làng Phù Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; con một nhà nho nghèo. Tham gia cách mạng từ trẻ. 1928 đi vô sản hoá ở mỏ Vàng Danh. 1929 gia nhập Đông Dương Cộng sản đảng. 1930 làm Bí thư đặc khu ủy Hồng Gai - Uông Bí. 1932 bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo. 1936 ra tù, được cử vào Xứ ủy Bắc Kỳ, thường vụ Trung ương Đảng. 1938 -1939 làm Tổng Bí thư Đảng, hoạt động ở Sài Gòn, bị trục xuất; ra Hà Nội chỉ đạo Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương. Tác giả cuốn Tự chỉ trích bút danh Trí Cường; đấu tranh phê bình trong nội bộ Đảng. 1940 bị Pháp bắt ở Sài Gòn, kết án tử hình và xử ông tại Bà Điểm - Hóc Môn ngày 28-8-1941.

Nguyễn Văn Huyên
Đường: dài 500m; từ đường Hoàng Quốc Việt đến Bảo tàng Dân tộc học. Năm 2003 mở tiếp đã nối với phố Nguyễn Khánh Toàn ở chạc ba cạnh góc đông nam công viên Nghĩa Đô. Đất xã Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm cũ. Nay thuộc hai phường Nghĩa Đô và Dịch Vọng, quận Cầu Giấy. Tên mới đặt tháng 1-1998.
Nguyễn Văn Huyên (1908 -1975): hiệu Huy Vân, sinh tại thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội); tiến sĩ văn khoa, cử nhân luật, giáo sư sử học, từng làm Giám đốc trường Viễn Đông Bác Cổ (1945), Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1946 -1975); Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam; sáng lập viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, để lại nhiều tác phẩm nghiên cứu văn, sử. Ông là người Việt Nam đầu tiên đỗ tiến sĩ khoa văn trường Đại học Xoócbon (Pháp). Bảo tàng Dân tộc học khánh thành năm 1997 ở đường phố mang tên ông.

Nguyễn Văn Linh
Đường: dài 5,7km; từ ngã ba cầu Chui, Gia Lâm chạy trên quốc lộ 5 (Hà Nội - Hải Phòng) đến ngã ba với quốc lộ 1B (mới mở đi Lạng Sơn) ở chỗ gần cầu Bây. Đây là đoạn đầu của quốc lộ 5 nằm trên đất các xã Gia Thụy, Thạch Bàn, huyện Gia Lâm trước đây. Nay thuộc các phường Ngọc Lâm, Gia Thuỵ, Phúc Đồng, Sài Đồng, Phúc Lợi, quận Long Biên (từ tháng 1-2004). Tên mới đặt tháng 1-2002.
Nguyễn Văn Linh (1915 -1998): tên thật là Nguyễn Văn Cúc, người xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ông tham gia cách mạng từ năm 1929. Tháng 5-1930 rải truyền đơn ngày Quốc tế lao động bị địch bắt, kết án chung thân đày ra Côn Đảo. 1936 được trả tự do, ông hoạt động công vận ở Hải Phòng, Hà Nội, tham gia lập lại Xứ ủy Trung Kỳ (1939). Bị bắt ở Vinh năm 1941, đi tù Côn Đảo lần nữa. Cách mạng tháng 8- 1945 thành công, ông về làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn, Bí thư đặc khu Sài Gòn - Gia Định.
Ông giữ nhiều cương vị quan trọng: Ủy viên và quyền Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (1949 -1960), Ủy viên Trung ương, Bí thư Trung ương cục miền Nam (1960 -1975), Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Mình (1976), Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị và Ban bí thư các khoá IV-V-VI. Tháng 12-1986 được bầu làm Tổng Bí thư, sau kiêm Bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương, đại biểu Quốc hội khoá VIII. Từ 1991 đến khi mất là cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông là chiến sĩ của hành động, đưa ra chủ trương “nhìn thẳng vào sự thật”, tham gia thiết kế và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Được thưởng Huân chương sao vàng.

Nguyện Văn Ngọc
Phố: dài 500m; từ phố Phan Kế Bính (ngõ Liễu Giai trước), vòng qua cạnh hồ Thủ Lệ đến phố Kim Mã. Đất các trại Liễu Giai, Thủ Lệ vùng Thập tam trại, Tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Cống Vị và Ngọc Khánh, quận Ba Đình. Tên mới đặt tháng 1-1998.
Nguyễn Văn Ngọc (1891-1942): tên thật Nguyễn Ngọc Nhữ, hiệu Ôn Như, sinh tại Hà Nội, quê làng Vạc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông là nhà nghiên cứu văn học dân gian, từng dạy học, thanh tra sơ học, phụ trách Tư thư cục Nha Học chính, đốc học Hà Đông. Ông viết trong nhóm Cổ kim thư xã bằng cả Pháp ngữ và quốc ngữ. Biên soạn nhiều sách giáo khoa, viết báo Nam Phong, Đông Thanh; để lại nhiều tác phẩm giá trị: Cổ học tinh hoa, Đông - Tây ngụ ngôn, Nam thi hợp tuyển, Tục ngữ phong dao, Nhi đồng lạc viên, Câu đối, Truyện cổ nước Nam…

Nguyễn Văn Siêu
Phố: dài 180m; từ phố Đào Duy Từ đến phố Hàng Giày. Vốn là lòng sông Tô Lịch cũ lấp đi, đất thôn Cổ Lương và phường Hà Khẩu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Đình Cổ Lương ở số 28, trường Phương Đình của Nguyễn Văn Siêu mở ở nhà ông, nay là số 12-14. Phố thuộc phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc: Lúc đầu cùng một phố với Ngõ Gạch, sau ngắt ra thành phố Án Sát Siêu. Sau Cách mạng là phố Phương Đình. Thời tạm chiếm: phố Nguyễn Siêu. Sau hoà bình điều chỉnh lại cho đúng họ tên.
Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872): tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình, người làng Kim Lũ, nay thuộc phường Đại Kim, quận Hoàng Mai. Đỗ phó bảng, làm án sát sứ Hưng Yên, rồi về dạy học, lập trường Phương Đình (số nhà 12-14 phố này). Ông giỏi văn chương, học rộng, được người đời gọi là Thần Siêu, cùng với Thánh Quát (Cao Bá Quát) là bạn, nổi tiếng thời ấy. Ông để lại nhiều tác phẩm và có công tu tạo đền Ngọc Sơn, đài Nghiên, Tháp Bút, ở đây còn những câu đối và đại tự do ông viết.

Nguyễn Văn Tố
Phố: dài 180m; từ phố đường Thành đến phố Phùng Hưng (cạnh chợ Hàng Da). Đất thôn Yên Trung Hạ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm.
Thời Pháp thuộc là phố Nguyễn Trãi. Sau Cách mạng gọi phố Phan Thanh. Thời tạm chiếm lại gọi Nguyễn Trãi. Từ 1964 đổi thành tên này.
Nguyễn Văn Tố (1889 - 1947): hiệu Ứng Hòe, người Hà Nội, làm tại trường Viễn Đông Bác Cổ; viết báo, sáng lập viên Hội Truyền bá quốc ngữ (1938). Sau Cách mạng, ông làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Trưởng ban thường trực Quốc hội khoá I. Ông hy sinh trong trận Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn ngày 7-10-1947.

Nguyễn Văn Trỗi
Phố: dài 1,1km; từ đường Giải Phóng đến kho Dược liệu Trung ương I. Đất xã Định Công, huyện Thanh Trì trước. Nay thuộc phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân. Tên mới đặt tháng 7-2000.
Nguyễn Văn Trỗi (1940 -1964): quê xã Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mồ côi mẹ, bố bị Tây bắt, 15 tuổi đã phiêu bạt đến Sài Gòn đạp xích lô, làm thợ điện. Được giác ngộ cách mạng, anh gia nhập Đoàn Thanh niên và trở thành chiến sĩ biệt động Sài Gòn. Anh nhận nhiệm vu đánh bom ở cầu Công Lý nhằm giết tên Mắc Namara - Bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Công việc bị lộ, anh bị bắt ngày 9-5-1964. Dù bị tra tấn cực hình, kể cả đem người vợ chưa cưới đến hòng làm anh lung lạc ý chí, nhưng anh chỉ một mực khai có mình anh làm việc mưu sát. Ra pháp trường ngày 15-10-1964, anh giật băng bịt mặt và hô to ba lần: “Hồ Chí Minh muôn năm!”. Nguyễn Văn Trỗi là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, anh được truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nguyễn Viết Xuân
Phố: dài 250m; từ phố Lê Trọng Tấn đến phố Nguyễn Ngọc Nại. Đất khu sân bay Bạch Mai cũ, thuộc làng Khương Trung, xã Khương Đình, huyện Thanh Trì trước. Nay thuộc phường Khương Mai, quận Thanh Xuân. Trước khi có tên dân tự đặt là phố Khương Mai. Tên mới đặt tháng 7-1999.
Nguyễn Viết Xuân (1933 -1964): liệt sĩ, Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Ông người xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, tham gia quân đội cuối năm 1952, dự các trận đánh phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ (1954), được kết nạp Đảng. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông làm chính trị viên đại đội một đơn vị pháo cao xạ trấn giữ vùng trời phía tây tỉnh Quảng Bình. Trong một trận đánh ác liệt chống trả máy bay Mỹ tấn công vào trận địa phòng không ngày 18-11-1964, ông bị bom phạt gần đứt một chân, đã bảo y tá cắt nốt phần thịt còn dính, nghiến răng khỏi kêu để cổ vũ đồng đội chiến đấu hạ 3 máy bay địch. Tiếng hô “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!” của Nguyễn Viết Xuân đã trở thành tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

Nguyễn Xí
Phố: dài hơn 50m; từ phố Đinh Lễ đến phố Tràng Tiền. Đất thôn Hậu Lâu, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là phố Giuynlơ Boaxie (rue Jules Boissière). Sau Cách mạng gọi phố Chùa Quan Thượng (nơi xưa có chùa Báo ân). Thời tạm chiếm đổi ra tên này.
Nguyễn Xí (1396 -1465) quê gốc ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, sang ở làng Thương Xá, huyện Chân Phúc (nay là Nghi Lộc - Nghệ An). Từ bé làm con nuôi Lê Lợi, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, dự đánh các trận Ninh Kiều, Tốt Động (1426). Trong lúc vây thành Đông Quan (1427) đánh trận Mi Động, rồi Xương Giang - Chi Lăng. Một danh tướng nhà Lê qua 4 đời vua, dẹp loạn Nghi Dân, đưa Lê Tư Thành lên làm vua tức Lê Thánh Tông, được phong tước Cương quốc công.

Nhà Chung
Phố: dài 300m; từ phố Nhà Thờ đến phố Tràng Thi. Đất thôn Báo Thiên tự, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là phố Hội Truyền giáo (rue de ta Mission).

Nhà Dầu
Ngõ: ở đầu phố Khâm Thiên, cạnh số nhà 1 rẽ vào; đất khu nhà Dầu Shell cũ - nay là Tổng Công ty Xăng dầu, trong ngõ có khu nhà tập thể của Tổng cục đường sắt, có lối thông ra đường Lê Duẩn. Nay thuộc phường Khâm Thiên, quận Đống Đa.

Nhà Giáo
Ngõ: ở phố Nguyễn Lương Bằng (cạnh số nhà 139 rẽ vào), trong ngõ trước đây là nhà giảng giáo lý của nhà thờ Nam Đồng. Nay thuộc phường Nam Đồng, quận Đống Đa. Còn gọi: ngõ 85 (số nhà cũ của phố Nam Đồng).

Nhà Hỏa
Phố: dài 130m; từ phố Hàng Gà đến phố đường Thành. Vốn là dãy hào ngoài mang cá - cửa Chính Đông thành cổ. Đất thôn Yên Nội, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ; nơi có đền thờ thần Hoả (ở 30 phố Hàng Điếu), nên thường gọi là thôn Nhà Hoả; ở đền có quả chuông lớn để đánh báo động khi có cháy. Nay thuộc phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm. Thời Pháp thuộc là phố Phesamen (rue Feitshamel).

Nhà Thờ
Phố: dài 110m; từ phố Hàng Trống đến thẳng trước cửa Nhà thờ Lớn Hà Nội, chỗ ngã ba với phố Nhà Chung và phố Lý Quốc Sư. Đất thôn Báo Thiên tự, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nhà thờ này xây năm 1885 trên nền chùa và tháp Báo Thiên bị phá đi. Nay thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm. Số nhà 3 là chùa Bà Đá tên chữ là Linh Quang tự, chốn tổ thiền phái Lâm Tế, có từ thời Lê, nay là trụ sở Hội Phật giáo Hà Nội. Thời Pháp thuộc gọi đại lộ Nhà Thờ (avenue de ta Cathédrale).

Nhà Thờ Nam Đồng
Ngõ: ở phố Nguyễn Lương Bằng (Nam Đồng cũ), cạnh số nhà 180 rẽ vào, đến cống Bệnh viện đa khoa Đống Đa, tách làm 2 nhánh 2 bên: vào khu nhà thờ và vào Xí nghiệp Thảm len Đống Đa cũ. Nay thuộc phường Quang Trung, quận Đống Đa.

Nhân Hòa
Phố: dài 450m; từ ngã ba phố Quan Nhân chạy qua trường Trung học cơ sở Phan Đình Giót, đến đường Vũ Trọng Phụng. Đất xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm trước đây, nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân.
Nhân Hoà là tên ghép của hai thôn cũ Quan Nhân và Hoà Mục. Nhân Chính thuộc vùng Kẻ Mọc, xưa thuộc tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì. Năm 1961 nhập vào huyện Từ Liêm. Nơi đây còn di chỉ Gò Đống Thây - mồ chôn quân Minh trong trận Cống Mọc năm 1426, di tích đã xếp hạng năm 1990, cùng với đình Cự Chính, chùa Bồ Đề, đình Quan Nhân xếp hạng năm 1989, đình - chùa Giáp Nhất xếp hạng năm 1992. Tên mới đặt tháng 1-1999.

Nội Miếu
Ngõ: ở góc phố Hàng Giày - Lương Ngọc Quyến rẽ vào; ngõ cộc, có 2 nhánh ở cuối. Nơi có ngôi đền “Trâu Khê vọng sở Nội Miếu cổ từ” của dân đúc bạc thờ tổ nghề. Đất thôn Hài Tượng, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm.

Núi Đôi
Đường: dài 2,1km; từ ngã tư trung tâm thị trấn Sóc Sơn - quốc lộ 3 đến ngã tư Bưu điện văn hoá xã Tân Minh, thị trấn Sóc Sơn - huyện Sóc Sơn. Tên mới đặt:12-2006. Núi Đôi tên ngọn núi đất ở xã Phù Linh và xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn. Núi đã vào thơ của Vũ Cao với mối tình đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ và cô du kích núi Đôi Trần Thị Bắc đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp.

Núi Trúc
Phố: dài gần 700m; từ phố Kim Mã sang phố Giảng Võ. Đất trại Kim Mã và Giảng Võ, quận Ba Đình. Núi Trúc là tên ngọn núi đất ở vùng này trước kia. Thời Pháp thuộc là đường 358 (voie 358). Tên mới đặt năm 1994.

Ngõ: dài 470m; từ phố Giang Văn Minh đến ngã tư phố Núi Trúc - Nam Cao. Nay thuộc phường Giảng Võ, quận Ba Đình. Tên mới đặt tháng 7-1999.

 

Theo: Từ điển phố phường Hà Nội

  Các bài mới
Phố Hoàng Hoa Thám
(Bắc Giang gắn liền với tên tuổi một người anh hùng áo vải, có thực, kiên dũng, và trở thành huyền thoại: Đề Thám, tức Hoàng Hoa Thám, người lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa chống Pháp suốt mấy chục năm trời trong cái thế yếu cả ...)
Đường Khâm Thiên
(Phố Khâm Thiên, một trong những phố có nhiều biệt danh, giống như nhà báo phải ký nhiều biệt danh, giống như nhà báo phải ký nhiều tên, đã gây ấn tượng mạnh trong lòng người Hà Nội qua nhiều thời kỳ. )
Đường Thanh Niên
(Hà Nội có nhiều đường phố mang tên các danh nhân. Nhiều đường phố mang tên sản phẩm hàng hóa đất Kẻ Chợ, chỉ riêng một con đường thơ mộng mang tên đường Thanh Niên. )
Đặt tên đường, phố mới ở Hà Nội (Phần 4)
(7 đường, phố cuối cùng trong nhóm 28 đường, phố mới được Thành phố đặt tên là: đường Vân Hà, đường Dục Tú, đường Trâu Quỳ, đường Thụy Phương, đường Phú Diễn, đường Phúc Diễn, phố Hàm Nghi. Trong đó, phố Hàm Nghi mang tên vị vua ...)
Đặt tên đường, phố mới ở Hà Nội (Phần 3)
(Viết bởi Thăng Long - Hà Nội Tiếp tục với nội dung giới thiệu về 28 đường, phố mới được Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đặt tên. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu các đường, phố gồm: đường Phú Nhi, đường ...)
Đặt tên đường, phố mới ở Hà Nội (Phần 2)
(Viết bởi Thang Long - Ha Noi: Chúng tôi tiếp tục giới thiệu đến bạn đọc 7 đường, phố mới đã được Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội thông qua ngày 16-7-2009, bao gồm: đường Vạn Phúc, phố Yên Duyên, phố Thanh Lân, phố Ngũ ...)
Đặt tên đường, phố mới ở Hà Nội (Phần 1)
(Viết bởi Thang Long - Ha Noi, Ngày 16 - 7 - 2009, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, Khoá XIII, Kỳ họp thứ 18 đã thông qua Nghị quyết đặt tên 28 đường, phố mới. Sau đây chúng tôi giới thiệu tới bạn đọc ...)
Đường Phố Hà Nội theo vần "A"
( An Dương - Phố: dài 650m; từ số nhà 11 và 32 của dốc An Dương đi vào đến dãy B1 khu Tập thể Du lịch. Đất bãi phường Yên Hoa, tổng Thượng, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Yên Phụ, quận Tây Hồ (tách ra từ ...)
Đường Phố Hà Nội theo vần "B"
( Bà Huyện Thanh Quan - Phố: dài 245m; từ đầu đường Điện Biên Phủ cắt ngang phố Chùa Một Cột đến phố Lê Hồng Phong. Đất thuộc Tiền Dinh góc tây nam thành cổ thời Nguyễn. Nay thuộc phường Điện Biên, quận Ba Đình. Thời Pháp thuộc là ...)
Đường Phố Hà Nội theo vần "C"
(Cảm Hội - Phố: dài 260m; từ giữa phố Nguyễn Cao rẽ vào, ngoặt góc thước thợ qua khu chung cư của Đại học Quốc gia sang đến phố Lò Đúc (cạnh số 149). Đất hai thôn Cảm ứng và Yên Hội hợp nhất thành Cảm Hội, tổng ...)
  Các bài đã đăng:
Đường Phố Hà Nội theo vần "Ô"
(Ô Cách Phố: dài 500m; từ số 234 Ngô Gia Tự đến số 52 ngõ 234 Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên. Tên cũ: ngõ 234 Ngô Gia Tự. Tên mới đặt tháng 12-2006. )
Đường Phố Hà Nội theo vần "Q"
(Quan Nhân Phố: dài 700m, từ cầu Mọc (Nhân Mục) trên sông Tô, vào thôn Mọc Quan Nhân, xã Nhân Chính, đi chéo xuống tây nam, đến phố Vũ Trọng Phụng. Đất thôn Quan Nhân, Nhân Mục Môn, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì cũ, sau thuộc huyện ...)
Đường Phố Hà Nội theo vần "S"
(Sài Đồng Phố: dài 900m; từ quốc lộ 5 (trước mặt khu công nghiệp Hanel) vào đến Công ty Nhựa Tú Phương. Đất xã Sài Đồng lập năm 1880, thuộc tổng Cự Linh, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, từ năm 1961 trở thành huyện ngoại thành, đến ...)
Đường Phố Hà Nội theo vần "P"
(Phạm Đình Hổ Phố: dài 220m; từ phố Tăng Bạt Hổ đến phố Lò Đúc, cắt ngang qua phố Hàng Chuối. Đất thôn Nhân Chiêu, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc là phố Sêông ...)
Đường Phố Hà Nội theo vần "T"
(Tả Thanh Oai Đường: dài 2,6 km; từ ngã ba đường Phan Trọng Tuệ (Đường 70A) đến dài liệt sĩ Tả Thanh Oai. Thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì. Tên mới đặt 12-7-2007. )
Đường Phố Hà Nội theo vần "U"
(Uy Nỗ Đường: dài 2km; từ ngã ba đường đi ga Đông Anh - Công ty Chiến thắng (Z 153 cũ) đến ngã ba đường đi quốc lộ 3 và xã Xuân Nộn, Xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh. Tên mới đặt: 12-2006. )
Đường Phố Hà Nội theo vần "V"
(Vạn Bảo Phố: dài 550m; từ phố Đội Cấn sang phố Kim Mã, đất cũ của trại Vạn Bảo - một trong Thập tam trại của kinh thành Thăng Long xưa. Nay thuộc hai phường Cống Vị và Liễu Giai, quận Ba Đình. Vạn Bảo là tên cổ ...)
Đường Phố Hà Nội theo vần "X"
(Xã Đàn Phố: dài 1,5km; từ ngã tư Đại Cồ Việt - Lê Duẩn – Đào Duy Anh đến Ô Chợ Dừa. Đường mới mở năm 2007 chạy trên đất các phường Phương Liên, Nam Đồng quận Đống Đa. Đặt tên tháng 6-2008. )
Đường Phố Hà Nội theo vần "Y"
(Y Miếu Phố: dài 90m; từ phố Ngô Sĩ Liên đến phố Trần Quý Cáp. Đất thôn Ngự Sử, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nơi có toà Ngự y, sau lập thành đền thờ các danh y Việt Nam và Trung Hoa, có từ thời Lê; di ...)

 
Gửi cho bạn bè Bookmark & Share Bản để in Quay trở lại 366 lần xem
 

Gửi cho bạn bè

Email của bạn
Email người nhận
Tiêu đề
Nội dung

Thứ Tư, 08/02/2012 11:14
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
 

Hotline

04 3987 6839

09394 88 666

Văn phòng tại Hà Nội

Du lịch Nội địa

Du lịch Quốc tế

Tour ghép

Tour Inbound

Thuê xe

Vietnam Visa

Vé tàu

Air ticket

 

Văn phòng tại Tp.HCM

Du lịch Nội địa

Du lịch Quốc tế


TOUR VIỆT NAM ĐƯỢC YÊU THÍCH
Hà Nội - Hạ Long - Hà Nội 2 ngày ( Ngủ tàu Poseidon)
Hà Nội - Hạ Long - Sapa - Hà Nội (6 ngày/5 đêm)
Hà Nội - Cửa Lò - Quê Bác - Hà Nội (4 ngày/3 đêm)- Khởi hành bằng ô tô
Hà Nội - Hải Phòng - Đảo Cát Bà - Hà Nội (4 ngày/3 đêm)

TOUR NƯỚC NGOÀI YÊU THÍCH
Hà nội - Seoul - Everland - Cheju - Nami - Hà Nội (7 ngày/6 đêm)
Hà Nội - Tokyo - núi Phú Sĩ - Kyoto - Osaka - Hà Nội (7 ngày/6 đêm)
Hà Nội - Singapore - Sentosa - Hà Nội (4 ngày/3 đêm)
Hà Nội - Singapore - Malaysia - Hà Nội (7 ngày/6 đêm)
Du Lịch Thái Lan: Hà Nội - Bangkok - Pattaya - Hà Nội ( 5 ngày/4 đêm)
DỊCH VỤ DU LỊCH
Trang chủ   |  Giới thiệu   |  Hướng Dẫn Đặt Tour   |  Hỏi Đáp Du Lịch   |  TUYỂN DỤNG   |  Dự báo thời tiết   |  Danh bạ website

 

AMI TOUR ®

VĂN PHÒNG TẠI HÀ NỘI

Địa chỉ: Số 12 Hàng Chuối - Hai Bà Trưng - Hà Nội.

Điện thoại: (04) 3987 6839 * Fax: (04) 3987 6840

Hotlines: 09394 88 666 ; 0904 927 888
E.mail: booking@amitour.com.vn - info@amitour.com.vn - Website: www.amitour.com.vn

 

AMI TOUR ®

VĂN PHÒNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ: 133 Tân Sơn – Phường 15 - Quận Tân Bình – TP Hồ Chí Minh

Điện thoại: (84 -8) 3814 3811 * Fax: (84 -8) 3814 3811

Hotlines: 0904 927 888 ; 09394 88 666
E.mail: info@amitour.com.vn  - Website: www.amitour.com.vn