Đem tinh hoa đến với Hà Nội * Làng nghề - phố nghề, đường nghề * Đâu chỉ bàn tay khối óc * Chất lượng lương tâm người thợ * Phố chuyên doanh
Từ khi trở thành kinh đô, công việc xây dựng thành quách lâu đài, dinh thự cho vua quan đòi hỏi phải có nhiều thợ giỏi, thợ tài của cả nước tham gia. Kiến trúc Thăng Long đã từng một thời huy hoàng với bao cung điện, đền đài trong Hoàng thành và Cấm thành. Những ngự lâu nguy nga, cột gỗ, đá chạm trổ công phu, những mái lợp ngói màu xanh, màu vàng rực rỡ. Bên cạnh đó là những công trình văn hoá tiêu biểu Tháp Báo Thiên, Chùa một cột…đã đi vào văn thơ muôn thủa. Ngoài “thành”, còn có “thị” của cư dân với 61 phố phường đời Trần và 36 phố phường đời Lê… Phường làng, trại ở chen nhau. Phường làm nghề thủ công, làng trại làm nông nghiệp, tằm tang. Phường vừa là nơi sản xuất, lại vừa là nơi tiêu thụ hàng hoá. Tính chất chuyên doanh tập trung cao độ tạo thành tên gọi của 36 phố phường. Hàng Gai, Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Đồng, Hàng Mã, Hàng Trống, Hàng Giấy, Hàng Nón, Bát Đàn…
Phố Hàng Bạc đầu thế kỷ 20
Các phường này ở phía Đông kinh thành, nơi có ngã ba Hà Khẩu vào sông Tô Lịch. Trong mỗi phường có một phần người gốc Thăng Long, còn lại là những hiệp thợ từng vùng khác tới. Họ số đông là người cùng họ, cùng làng để nhằm giữ bí mật nghề nghiệp. Sự gắn bó của họ giữa phường và làng gốc là ở những ngôi đình thờ vọng thành Hoàng làng – ông tổ của nghề họ ở quê nhà. Người ra Thăng Long hành nghề thường là những thợ cả, thợ giỏi, có như vậy mới đủ sức mạnh cạnh tranh được với thị trường, đòi hỏi những mặt hàng cao cấp và tinh xảo tới tuyệt đỉnh. Sự tinh tế trong sản phẩm thủ công trước hết từ nhu cầu của nhà nước phong kiến với bộ máy quan lại đồ sộ, với các đoàn sứ giả từ các nước đến kinh thành giao dịch. Từ đó lan truyền ra khu cư dân đem đến cho người Thăng Long sự tinh tế trong hưởng thụ, trang phục, giao tiếp.
Đem cái tinh nghề nghiệp từ quê nhà đến kinh thành, lại được các nhu cầu nâng cao của kinh thành thôi thúc, những người thợ thủ công ngày càng phải đi sâu rèn luyện tay nghề để bên cạnh cái tinh còn có cái xảo. Tinh xảo là yêu cầu không thể thiếu của người thợ kinh thành. Cho nên ta thường thấy cũng là mặt hàng ấy, cũng do thợ làm gốc ấy mà ra, nhưng sản phẩm của hiệp thợ trú ngụ tại kinh kỳ bao giờ cũng sắc sảo hơn, tinh tế hơn, thanh nhã hơn là sản phẩm của người làm ra từ quê nhà.
Mới đầu, từng hiệp thợ trú cư làm theo thời vụ rồi trở về, dần dà họ định cư ở hẳn, lập phường hội, như một làng mơi tách ra để sống vĩnh viễn ở Thăng Long, đời này qua đời khác và trở thành người Hà Nội, cuộc sống gắn bó với những vui buồn của mảnh đất này.
Nói đến nghề cổ truyền của Thăng Long gốc phải kể đến trước hết là hai nghề dệ ở vùng Bưởi. Truyền thuyết kể về ông tổ nghề giấy như sau: không rõ tên ông và cũng chẳng biết ông từ đâu tới. Ban đầu ông đến làng Thượng Yên Quyết dạy cho dân làng cách làm giấy. Do có người cư xử với ông không tốt, nên ông chỉ dạy cho cách dùng đầu mẩu vỏ đó làm ra giấy bổi thô, xấu để bao gói là chính. Ấy vậy mà cũng thành làng Giấy, cả chiếc cầu bắc qua sông Tô ở bên lang nơi phơi giấy và mở chợ bán giấy cũng được gọi là Cầu Giấy.
Ông tổ nghề đi tiếp sang Hồ Khẩu, ông dạy cách dân làng làm giấy moi, sang Đông Xã ông dạy làm giấy bản, giấy quỳ vừa mỏng vừa dai, sang Yên Thái ông truyền cho nghề làm giấy lệnh, dùng cho triều đình viết công văn. Cuối cùng ông đến Nghĩa Đô, dạy cho nhà họ Lại ở thôn Trung Nha nghề làm giấy sắc, loại giấy cao cấp nhất để viết các sắc lệnh của nhà vua. Loại giấy này phải “nghè”, tức là dùng vồ gỗ đập vào giấy đặt trên đá mài nhẵn cho phẳng lì mặt, và bền dai tờ giấy để nghìn năm không nát. Thế là cả vùng Bưởi có nghề giấy truyền thống với đủ các loại giấy được chuyên môn hoá cao, phục vụ cho một kinh thành đông quan lại, nhà nho và lại là nơi sĩ tử bốn phương hội tụ thi cử học hành…
Nghề dệt vùng này đã nổi tiếng từ xa xưa với nghề dệt tơ tằm mà lĩnh Bưởi là mặt hàng đặc sản. Tương truyền ông tổ họ Thái đã đem nghề dệt lụa về dạy cho dân làng Bái Ân đầu tiên, sau mới truyền sang các làng Tân, Nghè, Dâu vùng Nghĩa Đô. Còn dệt vải nhỏ lại tập trung ở phường Thụy Chương và Nghi Tàm, Làng Trích Sài ven Hồ Tây thời bà chúa dệt lĩnh Phạn Thị Ngọc Đô. Bà vốn là người Chiêm, là thứ phi vua Lê Thánh Tông, được cấp Thiên niên trang ở đây để dạy dân làng nghề dệt lụa cung tiến cho triều đình. Còn có một làng dệt lụa nữa là làng Trúc ở phía Đông Hồ Tây. Nơi có rất nhiều trúc. Đời chúa Trịnh Giang (thế kỷ 18) cho xây Trúc Lâm Viện để làm nơi nghỉ mát. Sau thành nơi giam dữ các cung nữ phạm tội. Họ phải làm nghề dệt lụa sống. Thứ lụa làng Trúc “vừa thanh vừa óng” đã một thời được mặc khách tao nhân kinh thành ưa chuộng.
Vùng dệt cổ Miêu Nha, Đại Mỗ ở ngoại vi đô thành tương truyền cũng đã lâu đời. Lại không còn nghề dệt thao ở Triều Khúc. Quai thao để buộc vào nón thúng, thứ thời trang không thể thiếu của người Thăng Long. Trước kia ta chỉ làm được nón, còn quai phải mua của Trung Quốc. Đến thế kỷ 18, có ông Vũ Uý người làng, đi sang sứ phương Bắc học được bí quyết nghề dệt thao đem về truyền cho dân làng. Từ dệt thao dân làng đã sáng tạo ra nhiều nghề khác như tua cờ, bấc đèn, dây dày, kim tùng hạt bột, y môn…và đầu thế kỷ này có thêm nghề dệt thổ cẩm. Đó là công lao của Nguyễn Văn Di, người thợ tài hoa bậc nhất của phường hàng thao đã mày mò, nghiên cứu phương pháp dệt, đóng khung dệt và nhuộm màu không phai…truyền bá cho dân làng Đơ theo nghề mới đầy triển vọng.
Đi liền với nghề dệt là nghề nhuộm, làng Đồng Lầm ở cửa ô Kim Liên có nghề nhuộm nâu. Phường Bích Lưu có dân các làng Liêu Xá, Liêu Xuyên (Hưng Yên) và Vân Hoàng đến làm nghề nhuộm thâm, do đó mà Hà Nội có tên phố Thợ Nhuộm thời Pháp thuộc. Nổi tiếng hơn cả là phường Hàng Đào nhuộm điều. Đầu thế kỷ 15 tên phường và nghề nhuộm đã được Nguyễn Trãi ghi và Dư địa chí. Nghề nhuộm đây do người Đan Loan (Hải Dương) đem tới chủ yếu thiên về sắc đỏ, hồng hoa đào, nhưng thế kỷ 18 thì đã nhuộm đủ các màu, màu trắng như tuyết, màu đỏ như tiết, màu đen như nhuộm mực, màu vàng là màu chính. Tạp thì có màu huyên, thiên thanh, hoa đào, cánh chả, quan lục, không màu nào giống màu nào cả…”
Nghề vàng bạc tập trung ở phường Đông Các, sau là phố Hàng Bạc. Trước đây có ba nghề khác nhau: đúc bạc nén, đổi tiền và nghề kim hoàn. Dân đúc bạc và đổi tiền đều là người Trâu Khê (Hải Dương), ra dựng nghiệp ở kinh thành do Lưu Xuân Tín thượng thư Bộ Lại dưới thời Lê Thánh Tông (cuối thế kỷ 15) vốn là người làng, được vua cho mở xưởng đúc bạc ở Thăng Long.
Còn nghề kim hoàn cũng có ba ngành: chạm - trổ khắc hình vẽ, trang trí trên các hàng bằng vàng, bạc, đậu – kéo vàng bạc thành sợi, rồi xếp lại thành hoa lá gắn vào đồ nữ trang, trơn là hàng vàng bạc chỉ cườm cho nhẵn bóng. Dân gốc Hà Nội làm nghề vàng bạc là người dân làng Định Công Thượng. Tương truuyền nghề này có từ thế kỷ 6 thời Tiền Lý do ba an hem họ Trần ( Trần Hoà, Trần Điện, Trần Điền) là tổ nghề. Thợ Định Công chuyên làm đồ nữ trang. Còn chạm trổ các loại mỹ phẩm bằng bạc là thuộc thợ Đồng Sâm (Thái Bình) đến ngụ và mở cửa hành nghề. Sản phẩm của họ là những bát, đĩa, ấm chén, lọ hoa, vòng đeo tay, vòng cổ…bằng bạc chạm trổ tinh vi dùng cho các nhà quyền quý.
Cũng là nghề làm vàng nhưng là thứ vàng quỳ, dùng trong công nghệ sơn son thếp vàng, sơn mài…là thuộc dân Kiêu Kỵ (Gia Lâm). Người thợ dùng búa gỗ, mà gõ, dát mỏng dần các lá vàng mười, mỏng đến mức khẽ thở cũng bay mất. Vàng quỳ đã góp phần làm cho các đồ tế khí, tượng phật thêm màu sắc huy hoàng, rực rỡ, tráng lệ.
Biểu diễn đúc trống Đồng của người dân Ngũ Xã
Nghề đúc ở Thăng Long nổi tiếng là Ngũ Xã tràng. Họ là dân 5 làng quê gốc ở Siêu Loại ra mở lò đúc đồng ở đây từ thế kỷ 17 – 18. Trong “Tụng Tây Hồ phú”, Nguyễn Huy Lượng đã viết: “Lửa đóm ghen năm xã gây lò” là nói về phường đúc này. Phường thờ ông tổ nghề là Nguyễn Minh Không. Nhiều pho tượng nổi tiếng ở nước ta và ở Thăng Long là do phường Ngũ Xã đúc ra. Trong đó, có tượng đồng đen Thánh Trấn Vũ ở đền Quán Thánh bên Hồ Tây, cho đến tượng Di Đà chùa Thần Quang – pho tượng đồng lớn nhất miền Bắc.
Thăng Long còn có tràng đúc tiền gọi là Bảo Tuyền cục ở thôn Cựu Lâu, nay là phố Tràng Tiền, và lò đúc đồng ở gần ô Lãng Yên nên sau thành tên phố là Lò Đúc. Phường đúc này là của người làng Đức Bắc Kinh Bắc đến ở đậu giữa thế kỷ 19. Lại có dân Cầu Nôm (Hưng Yên) đến ngụ ở thôn Yên Phú chuyên bán các đồ vật bằng đồng, từ mâm, nồi, xanh chảo đến bộ đồ tam sự, ngũ sự cho thờ cúng. Họ lập thành phố Hàng Đồng ngày nay.
Phố Lò Rèn
Nghề rèn do dân hai làng rèn ở ngoại ô đến lập nghiệp. Người Hòe Thị (Từ Liêm) mở lò rèn làm nông cụ ở thôn Tân Khai lập nên phố Lò Rèn bây giờ. Sau còn mở hiệu rèn ở Sinh Từ, nổi tiếng với kéo Sinh Tài và dụng cụ đồ mộc. Còn người Đa Hội (Đông Anh) sang ở thôn Trang Lâu làm nghề rèn gươm, đao, dao, kéo, tràng đục, cày cuốc…nay là phố Lò Sũ. Cũng ở phố này, nghề mộc phát triển hơn 200 năm nay với các người thợ đến từ Liễu Viên, Phượng Dực (Thường Tín) sau lan sang phố bên cạnh, nay là Nguyễn Hữu Huân. Nghề tiện gỗ là do thợ làng Nhị Khê (Hà Đông) đem tới kinh thành. Lúc đầu là phố ở Hàng Hành sau lan sang cả phố Tố Tịch, Hàng Gai. Họ thờ ông tổ nghề là Đoàn Tài, vốn là người làng Khánh Vân, đối ngạn với Nhị Khê ở bờ bên kia sông Tô. Sản phẩm của họ học thêm nghề khắc của thợ Liễu Chàng (Hải Dương) ngụ ở phường Hàng Gai chuyên khắc ván in, mở ra thêm nghề khắc dấu, triện bằng gỗ, bằng đồng… Nghề đồ gỗ sơn tập trung ở phố Hàng Hòm đều là dân Hà Vĩ (Thường Tín). Họ làm bán các tráp sơn, hòm sơn đen, rương… Ông tổ nghề sơn là Trần Lư vốn là người làng Bằng (Thường Tín) đỗ tiến sĩ thời Lê Hiển Tông, đầu thế kỷ 16. Là một thầy thuốc giỏi, có dịp sang sứ phương Bắc nhiều phen, ông học được nghề sơn vẽ về truyền dạy cho dân các làng phía Nam kinh thành như Bình Vọng, Đông Phù. Đông Phù (tên nôm là làng Nhót nay thuộc xã Đông Mỹ - Thanh Trì) có nghề sơn vẽ, sơn mài truyền thống là như vậy. Sản phẩm của làng Nhót được ưa chuộng ở kinh thành, thường bày bán ở các phố Hàng Khay, kết hợp với hàng sơn khảm, hàng khảm trai của thợ làng Chuôn (Phú Xuyên) làm ra, các hàng mộc khảm cao cấp như: sập, tủ chùa, tủ chè, bàn ghế, tràng kỷ, khay… được làm ra ở đây. Họ thờ ông tổ nghề khảm là Nguyễn Kim.
Hà Nội có cả một Phố Hàng Quạt với đủ mọi loại quạt của các địa phương đem tới. Đó là quạt Lủ (Thanh Trì) nan tre cật luộc kỹ, giấy phất nước cậy màu đỏ nhạt, cài hoa bướm, vừa bền vừa đẹp; lại có thứ phất tre, lượt thay giấy, nan bằng gỗ lụi hoặc xương, sừng, ngà voi… vừa sang trọng vừa kín đáo, cô dâu dùng quạt lượt che mặt vẫn có thể ngắm chú rể thoải mái. Lại còn quạt thước (dài trên 40cm) xoè ra có thể che nắng đường xa, cụp lại thành tay thước đánh chó và tự vệ.
Đó là quạt Hới (Hưng Yên) nan bằng trúc, quạt Vác (Thanh Oai) có đặc điểm trổ châm kim trang trí lên quạt và đóng nhài đồng thêm chắc, nhiều nhất là quạt giấy của dân Đào Xá, có tên nôm là Đầu Quạt (Hưng Yên) đến ngụ đông đảo ở phố này từ đầu thời Nguyễn.
Lại còn quạt nan, quạt thóc của làng Vo (Gia Lâm), quạt lá vá bằng tre nan đan của làng Vẽ (Từ Liêm), quạt lá đề bằng lông cò trắng, lông ngỗng của làng Đơ (Thanh Trì)…
Đem nghề giày dép đến kinh kỳ sớm nhất là thợ làng Chắm (Hải Dương) họ lập ra cả một thôn Hài Tượng (thợ giày) nay là phố Hàng Giày và ngõ Hải Thượng, sau lần ra cả thôn Tả Khánh (Hàng Hành) bên Hồ Gươm. Họ đóng giày, dép, làm các mặt hàng da và thuộc da. Còn có một số Hàng Hài (nay là đoạn Hàng Bông) chỉ làm hài thờ, thêu kim tuyến, hột cườm. Đầu thế kỷ 20, dân làng Nành (Gia Lâm) sang ở phố Hà Trung, ngõ Trạm mở ra nghề giày da mới, đóng giày tây, làm yên ngựa, túi sung, bóng đá… Lại còn phố Hàng Dép (đoạn Hàng Bồ gặp Hàng Đào) tập trung bán các loại dép quai ngang, dép cong, giày cườm, giày mang cá và các loại guốc tân thời bằng gỗ sơn, cao gót, có thứ bọc mũi bằng da mộc, có thứ quai da láng đủ kiểu trang trí.
Nghệ nhân làng gốm Bát Tràng
Hà Nội có “chợ Đình thợ thêu” ở phố Yên Thái, nơi bày bán hàng thêu nổi tiếng một thời, có dãy hàng thêu của người làng Quất Động (Thường Tín) mở ở phố Hàng Trống ở đây đã có lịch sử hơn 600 năm. Phường hội ban đầu có tên là Bạch Thổ phường. Tương truyền họ là dân làng Bồ Bát (Ninh Bình) di cư ra Thăng Long. Gốm sứ Bát Tràng nổi tiếng từ xa xưa với những chất men quý đa dạng: men ngọc xanh, men đàn vàng gà, men nâu, men lam, xanh chì, men trắng, da lươn… Đồ gốm cổ sản xuất từ lò Bát Tràng hiện còn lưu giữ ở khá nhiều bảo tang vùng Đông Nam Á và thế giới. Dư địa chí của Nguyễn Trãi còn ghi: trong đồ cống nạp triều đình phong kiến phương Bắc có 70 bộ bát đĩa Bát Tràng.
Cùng với nghề thủ công, nghề nông ở Thăng Long cũng có những đặc điểm khác nơi khác. Chẳng ở đâu có nhiều làng hoa như kinh đô: Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Võng Thị, Nghi Tàm, Quảng Bá, Tây Hồ, Nhật Tân… Vùng rau Láng nổi tiếng kinh kỳ, thập tam trại với vườn thuốc Đại Yên…
Các đặc sản như cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì, đậu Mơ, bánh cuốn Thanh Trì, giò Trèm, nem Vẽ, rượu Hoàng Mai, Yên Ngưu, rắn Lệ Mật, bánh tôm Cổ Ngư, chả cá Hàng Sơn nay là phố chả cá, cá rô Đầm Sét, sâm cầm Tây Hồ… mãi còn vang vọng.
Xôi Hà Nội
Các tài chế biến thì đâu cũng thua người kinh đô. Cũng là xôi, nhưng Hà Nội có tới vài ba chục loại xôi. Quà Hà Nội ăn một lần nhớ mãi. Đâu phải là sơn hào hải vị gì. Chỉ một gói xôi ngô dẻo bùi, rưới hành phi vàng ươm, ôm gọn trong mùi lá sen thơm thoảng mà chẳng đâu có như Hà Nội.
“Khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ chợ” là thế!
Tài hoa, tinh xảo, điêu luyện trong tay nghề lại phải đi đôi với thật thà, giữ tín nhiệm với người tiêu dùng. Để “khách nhớ nhà hàng” là một chỉ tiêu lương tâm của người sản xuất kinh doanh trên đất Hà Nội. Phẩm chất hàng hoá thể hiện một phần phẩm chất con người.
Từ truyền thống khéo tay hay nghề của ông cha, của cả đất nước góp lại cho Hà Nội từ xưa, ngày nay vẫn phát huy trong thời đại mới. Bên cạnh nghề cũ, Hà Nội có những làng may, phố may: Cổ Nhuế, Khâm Thiên; làng điêu khắc Thiết Hà; làng hoa mới: làng dâu tằm Đổng Viên, làng bánh kẹo Xuân Đỉnh, làng bún Phú Đô, làng bò sữa Phù Đổng, Trung Màu, làng cá lồng Giang Biên, Văn Đức, làng rừng Bắc Sơn, Đa Tốn… Gốm sứ không còn độc tôn ở Bát Tràng mà mở rộng ra cả một số xã xung quanh, lại thêm có sứ Thanh Trì góp mặt. Phố Hà Nội cũng đang dần đi vào chuyên doanh, tập trung cao.
Có thể nói không một nghề gì có ở nước ta mà Hà Nội không có. Tiếp thu nhanh, thông minh và sáng tạo là thế mạnh của những người thợ Hà Nội.
Đó cũng là một trong những “chất Hà Nội” mà chúng ta đáng trân trọng, giữ gìn và phát huy.
Đó cũng là cái vốn cho Hà Nội cất cánh Rồng bay.
Nguồn tin: Theo Hà Nội xưa và nay (nhiều tác giả)
Các bài mới
Tô Hoài - Vì tình yêu Hà Nội (Những tiếng vỗ tay không dứt khi Giải thưởng lớn - Vì tình yêu Hà Nội (VTYHN) trong hệ thống Giải thưởng "Bùi Xuân Phái - VTYHN" 2010 xướng tên lão nhà văn Tô Hoài. "Ông Dế mèn" một lần nữa được vinh danh xứng đáng, khi ...)
"Hiệp Sĩ" của những di tích lịch sử (Giáo sư, Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính sinh năm 1941 tại Hà Nội, năm 1967 ông tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Matxcơva (Nga). Năm 1977, ông bảo vệ luận án phó tiến sĩ kiến trúc về di sản và trùng tu tại trường Đại học ...)
Nhà Vật Lý trẻ tài năng (Giáo sư Đàm Thanh Sơn sinh năm 1969 tại Hà Nội. 30 năm sau, năm 1999, anh trở thành giáo sư giảng dạy môn vật lý thuộc Trường Đại học Columbia, Mỹ. Từ năm 2002 cho tới nay, anh là giáo sư Trường Đại học Washington. )
Đắm mình vào Hồn cổ ( Ngôi nhà nghệ nhân Vũ Giỏi lại ở ngay cạnh đình làng cổ kính thôn Đông Cứu, xã Thường Tín, ẩn mình dưới những tán lá xanh rì. Mới bước chân vào phòng khách, là thấy ngay cái sắc vàng óng ả, vương giả của tơ lụa ...)
Nghệ nhân Lê Khang, "Đôi bàn tay vàng" của Thủ đô (Giới chơi đồ đồng Hà thành yêu mến gọi ông bằng cái tên "vua đúc đồng" nhưng ông luôn khiêm tốn: "Những gì tôi làm vẫn chưa xứng đáng với các bậc tiền nhân...". Có rất nhiều tác phẩm để đời nhưng nghệ nhân Lê Khang, Phó ...)
"Vua" thổ cẩm đất Hà Thành (Dòng sản phẩm thổ cẩm độc đáo của Hà Nội gắn với nghệ nhân Đỗ Đình Được (làng Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì). Nhiều người gọi ông là "vua" thổ cẩm Hà Thành. )
Vua lan đất Hà Thành (Ðến thăm vườn lan của Trần Tuấn Anh ở phường Khương Ðình, quận Thanh Xuân - Hà Nội ta không khỏi choáng ngợp bởi số lượng và chủng loại lan rừng quí hiếm mà anh sưu tầm và lưu giữ. )