|
Múa rối nước - Nghệ thuật sân khấu độc đáo
Múa rối cạn hầu như dân tộc nào cũng có, còn múa rối nước thì có lẽ chỉ có ở Việt Nam. Đây là nghệ thuật dân gian độc đáo của nước ta đã xuất hiện từ rất lâu. Tấm bia đá ở tháp Sùng Thiên Diên Linh dựng tại chùa Đọi Sơn (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) năm 1121 (Triều Lý) có ghi: Rối nước đã từng được diễn trong lễ mừng thọ nhà vua. Nghệ thuật múa rối nước được sinh ra từ đồng bằng châu thổ sông Hồng, phản ánh sản xuất nông nghiệp và đời sống của người nông dân nước ta.
Ngày trước, những người làm nghề rối nước thường tổ chức thành phường rối. Mỗi phường có khoảng bảy, tám chục ngươi do một ông trùm đứng đầu để điều hành công việc. Trong một phường chỉ có 20 người hoạt động trực tiếp , số người còn lại phục vụ cho phường hoạt động biểu diễn. Phường rối vừa là một tổ chức nghệ thuật nghiệp dư vừa là một tổ chức tương tế. Hàng năm phường rối làm lễ tế tổ nghề và nhận thêm người mới. Người mới được kết nạp vào phường mang trầu cau, rượu đến lễ tổ, trình phường, thề giữ bí mật nhà nghề. Lệ quy định không nhận phụ nữ vào phường, sợ khi lấy chồng xa, họ mang theo bí truyền múa rối của phường. Một vở rối nước thường có nhiều “nhân vật”, mỗi nhân vật (con rối) là một tác phẩm điêu khắc dân gian, mang dáng vẻ khác nhau thể hiện tính cách cũng khác nhau. Con rối được làm bằng gỗ, bên ngoài phủ sơn ta, để chống thấm nước, nhân vật tiêu biểu của rối nước là chú Tễu với thân hình tròn trĩnh và nụ cười hóm hỉnh, lạc quan.
Vùng đồng bằng Bắc Bộ có nhiều ao, hồ đã trở thành sân khấu múa rối nước vô cùng sinh động. Bờ ao, hồ là nơi khán giả quây quần xem biểu diễn vào những ngày lễ hội làng thường tổ chức ở thuỷ đình (nhà trò). Biểu diễn rối nước bắt đầu bằng việc chú Tễu ra giới thiệu chương trình. Với bộ mặt tinh nghịch, trang phục ngỗ nghĩnh, hai tay chỉ trỏ, miệng hát lời “dọn đám”, chú Tễu mang lại tràng cười sảng khoái ngay từ phút đầu. Khi biểu diễn, nghệ nhân phải ngâm mình dưới nước để điều khiển con rối thông qua máy sào, máy dây. Nhạc đệm cho cuộc diễn là bộ gõ gồm trống, mõ, thanh la…
Thời Lê còn để lại các di tích thuỷ đình (nhà của những người điều khiển con rối) tại đền Phù Đổng (huyện Gia Lâm), chùa Nành (xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm) và thuỷ đình có quy mô lớn ở chùa Thầy (xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai) đều thuộc ngoại thành Hà Nội ngày nay.
Chương trình trò diễn rối nước khá phong phú, mỗi nơi, mỗi phường có khác. Về đề tài lao động sản xuất có các nhóm trò tứ dân, gồm Ngư có các trò câu cá, cá lội, úp nơm, bơi thuyền, thả lưới, kéo vó; Tiều có các trò chặt cây, gánh củi; Canh với các trò đi cầy, bừa, cấy lúa, gặt lúa, tát nước, cắt cỏ, chăn trâu; Độc với các trò ông đồ, bà đồ, đi học, đọc sách. Về đề tài sinh hoạt văn hoá có các nhóm trò vật. đua leo lang, đua ngựa…, trích đoạn các tích chuyện chèo cổ, tuồng cổ, các trò lễ nghi, hội hè, các chuyện lịch sử như cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 - 43 sau công nguyên), Bà Triệu (thế kỷ thứ 3), Lê Lợi (1385 - 1433), chiến thắng trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đánh quân xâm lược Nam Hán năm 938, Lê Hoàn đánh quân Tống năm 981 và Trần Quốc Tuấn đánh quân Mông - Nguyên năm 1288.
Kho tàng các vở rối nước rất lớn và ngày càng được bổ sung nhiều vở diễn mới có nội dung thích hợp với cuộc sống đương đại và sở thích của khán giả. Ví dụ: Nhà hát múa rối Việt Nam có chương trình biểu diễn gồm 16 trò cổ tiêu biểu, bật cờ, vinh quy bái tổ, múa rồng, múa lân, múa phượng, múa sư tử, múa bát tiên, đánh cáo, bắt vịt, đánh cá, đua thuyền, trọi trâu, nhi đồng hí thuỷ, Lam Sơn tụ nghĩa… Tiết mục múa rối nước thường ngắn, gọn luôn thay đổi, lại kết hợp với âm nhạc, pháo hoa, lửa đuốc… được phản quang trên mặt nước làm tăng vẻ lộng lẫy và sức hấp dẫn.
Múa rối nước là loại hình nghệ thuật sân khấu mang tính tổng hợp cao của nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khác như chạm khắc, sơn thiếp, vẽ màu, làm pháo, kiến trúc, thêu thùa, âm nhạc, nhảy múa, thơ ca, văn học…
Ở Hà Nội hiện nay có nhiều làng xã tổ chức múa rối nước nhân ngày hội làng và giỗ tổ nghề. Tại vùng chiêm trũng huyện Phú Xuyên có câu tục ngữ “Lệnh ải, trải Neo, chèo Bối, rối Lường” . Lường là tên nôm các thôn Tạ Xá, An Mỹ (xã Đại Thắng), thôn Ngọc Lâu (xã Quang Trung). Xã Đại Thắng hiện có một ngôi chùa có tên là chùa Rối. Dân làng kể rằng ngày xưa làng mở hội chùa và tổ chức múa rối cho dân xem ở đó.
Huyện Thanh Oai có xã Cao Viên hiện còn ngôi chùa tên chữ Hán là Phúc Lâm, nhưng dân làng cũng gọi là chùa Rối.
Giữa hồ Long Trì ở chùa Thầy (xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai) có nhà thuỷ đình. Các nhà nghiên cứu văn hoá đoán định thuỷ đình này đã ra đời vào thời Lê sơ, bởi tấm bia ở cạnh đó có niên hiệu Đại Chính thứ bảy (1536) thời Mạc Đăng Doanh. Phường rối nước làng Gia (xã Bình Phú, huyện Thạch Thất) thường biểu diễn ở thuỷ đình này vào dịp lễ hội chùa Thầy từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 3 âm lịch. Người làng Thầy có 3 mẫu ruộng giao lại cho người làng Gia hưởng hoa lợi để hàng năm làm nghĩa vụ kể trên. Người làng Gia lưu truyền thuỷ tổ của nghề múa rối nước là Từ Đạo Hạnh, một thiền sư nổi tiếng thời Lý. Để ghi nhớ công lao của thiền sư dạy nghề, ở chùa Thầy, tại gian thượng điện có tượng thờ Từ Đạo Hạnh được cấu trúc theo dạng có thể cử động đứng lên, ngồi xuống, khi đóng hoặc mở cửa khám thờ.
Hiện nay, ngoài làng Gia, còn có hai phường rối nước khác là phường Chàng Sơn và phường Yên Thôn vẫn giữ được nghề. Ba phường này ngày xưa đều thuộc Tổng Nủa ở vùng đất phía nam huyện Thạch Thất. Nhìn chung ba phường rối nước đều gìn giữ được bí quyết của nghề để tạo ra những trò diễn đặc sắc. Bên cạnh việc biểu diễn, người ta còn làm con rối để bán, coi như một sản phẩm văn hoá.
Trong các phường rối nước của Thủ đô, nổi tiếng hơn cả là phường Đạo Thục (xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh). Với nhiều trò diễn như Cô Tấm đi hội, Thạch Sanh, Thánh Gióng, sự tích thành Cổ Loa… phường đã đi biểu diễn ở các tỉnh Ninh Bình, Khánh Hoà, Hải Phòng… và cả ở nước ngoài như Trung Quốc, Hà Lan. ở trong nước cũng như ở các nước bạn, phường đều được nhiều khách đến xem và cổ vũ nồng nhiệt.
Trên địa bàn Hà Nội, có nhà múa rối Việt Nam và nhà hát múa rối Thăng Long. Hàng ngày đều có đông khách trong nước và quốc tế đến xem. Hai nhà hát này cũng đã có những chuyến lưu diễn rối nước ở nhiều nước trên thế giới và được bạn bè năm châu yêu thích.
Múa rối nước là di sản văn hoá độc đáo và quý giá của dân tộc, cần được giữ gìn và phát triển không chỉ hiện nay mà còn cho các thế hệ mai sau.
Theo Báo ảnh Việt Nam
|