TÌM KIẾM TOUR
Tìm kiếm nâng cao
ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH TỈNH
Home
Thông tin du lịch
1000 năm Thăng Long
Thăng Long qua các thời kỳ

Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn: Các sự kiện lịch sử chính

 

Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn: Các sự kiện lịch sử chính

 

Cuộc đánh chiếm Bắc thành của Gia Long
Cuối tháng 6 năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Quang Toản phải bỏ kinh đô Phú Xuân, chạy ra đến Bắc Thành, đổi lại niên hiệu là Bảo Hưng và ra sức chuẩn bị lực lượng để phản công quân Nguyễn. Đến tháng 12, Quang Toản đem 3 vạn quân vượt sông Gianh tiến đánh quân Nguyễn, nhưng bị thất bại. Nguyễn Quang Toản đem tàn quân chạy thoát ra Bắc.

Nguyễn Ánh thắng trận, đem quân trở về Phú Xuân. Trước khi tiến quân ra Bắc Hà, ngày mùng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh lập đàn Nam Giao làm lễ tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Gia Long.

Ngày 21 tháng 5 năm ấy, đại quân của Gia Long bắt đầu ra đi từ Phú Xuân. Ngày 28, quân Nguyễn đánh lấy Hà Trung. Ngày 1 tháng 6, thủy quân Nguyễn đánh vào cửa Hội, tiến lên chiếm Vĩnh Dinh, bắt được con Nguyễn Nhạc là Nguyễn Lân. Sau đấy, Gia Long chiếm Nghệ An. Ngày mùng 5, tiến quân đến Thanh Hóa, chiếm Dương Xá (trấn ly Thanh Hóa, bất được Quang Bàn (em Quang Toản). Ngày mùng 7, Phó đô thống chế Vũ Văn Doãn bắt được Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và một số tướng lĩnh ở Thanh Chương (Nghệ An); Vũ Văn Dũng cũng bị bắt ở huyện Nông Cống (Thanh Hóa). Ngày mùng 9, bộ binh Nguyễn đánh lấy Tam Điệp, rồi tiến ra Ninh Bình và lấy Châu Cầu (Phủ Lý). Thủy quân Nguyễn vào sông Hồng, ngược lên Vị Hoàng (Nam Định). Ngày 17, quân Nguyễn tiến vào Bắc Thành - Thăng Long, bắt được hơn 100 con voi.

Ngày 21 tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802), Gia Long vào Bắc Thành - Thăng Long. Cuộc hành quân của quân Nguyễn từ Phú Xuân (Huế) ra đến Thăng Long (Bắc Thành) vừa đúng một tháng tròn.

Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản biết thế không thể chống giữ được, liền cùng với các em là Quang Thùy, Quang Thiệu, Quang Dung và các bầy tôi là Tư mã Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Tứ, Đô đốc Tú sang sông Hồng, chạy lên Xương Giang (Bắc Giang), nhưng thế cùng lực kiệt, người thì tự tử, kẻ thì bị bắt. Triều đại Tây Sơn đến đây là chấm dứt.

Việc sắp đặt cơ quan hành chính ở Thăng Long
Sau khi chiếm được Bắc Thành từ tay triều Tây Sơn, Gia Long không định đô ở đây mà chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô của cả nước. Từ đấy, kinh thành Thăng Long phải chịu một sự chuyển đổi lớn: từ kinh thành trong hơn 800 năm trước trở thành trấn thành rồi dần dần trở thành tỉnh thành. Sự chuyển đổi ấy có nhiều lý do: một là các chúa Nguyễn đã từng ở Phú Xuân (Huế) trong mấy trăm năm (từ 1687), ảnh hưởng của nhà Nguyễn tại miền này có nhiều mà nền nếp tổ chức đã có sẵn, cho nên vua Gia Long nhà Nguyễn lúc này không muốn dời đi nơi khác; hai là nhân dân ngoài Bắc khi ấy không tín nhiệm nhà Nguyễn và nhất là tầng lớp sĩ phu Bắc Hà vẫn tưởng nhớ nhà Lê, cho nên việc đóng đô ở Thăng Long là không có lợi cho nhà Nguyễn. Do đấy, Gia Long đã quyết định đóng đô ở lại nơi cũ là Phú Xuân, không ra Thăng Long và cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc Thành.

Lên ngôi năm 1802, Gia Long vẫn giữ tổ chức Bắc Thành nhưng rút lại còn có 5 nội trấn là Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương và 6 ngoại trấn là: Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng, An Quảng, Hưng Hóa.

Như vậy là Gia Long giải tán Thanh Hóa ngoại trấn (cho lệ vào Sơn Nam hạ) và phủ Phụng Thiên (đến năm 1805 sẽ gọi là phủ Hoài Đức), vì là ly sở của Bắc Thành nên lệ vào trấn Bắc Thành.

Tại Bắc Thành cũng vào năm 1802, ngoài việc đặt chức Tổng trấn, Gia Long cho thiết lập bốn tào: Hộ, Binh, Hình và Công chuyên phụ trách các mặt kinh tế, quân sự và pháp luật. Triều đình lấy chức Tham tri phụ trách các Tào của Bắc Thành. Những viên quan đứng đầu các Tào nói trên đều là quan lại cao cấp ở các bộ tương đương được biệt phái đến. Thí dụ như viên quan Hữu tham tri bộ Hộ tại kinh đô Huế, được cử ra phụ trách Hộ Tào; viên quan Hữu tham tri bộ Binh thì phụ trách Binh Tào v.v…

Tháng 8 năm Nhâm Tuất (1802), tại phủ Phụng Thiên, nơi đóng ly sở của Bắc Thành (Thăng Long), Gia Long cho đặt “một An phủ sứ và một Tuyên phủ sứ thống trị hai huyện” Vĩnh Xương và Quảng Đức (Đại Nam thực lục (gọi tắt là Thực lục). Nxb Giáo dục, H.2002, tập I, tr. 518). Trong đó An phủ sứ là vô quan, phẩm trật vào hàng Tòng tứ phẩm, Tuyên phủ sứ là văn quan cũng có hàm Tòng tứ phẩm. Như vậy, mặc dù Gia Long đã bỏ chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên thời Lê trước đây, nhưng vẫn đặt viên quan đứng đầu phủ này ở quan hàm gằn ngang với viên quan đứng đâu các trấn. Dưới thời Gia Long, chức Trấn thủ đứng đầu các trấn là vô quan có hàm Chánh tam phẩm, và dưới văn quan là chức Tham hiệp hàm Chánh tứ phẩm. Các viên tri phủ đứng đầu các phủ trong các trấn chỉ có hàm Chánh lục phẩm. (Nhực lục, Sđd, tập I, tr. 596, 597).

Năm 1805, Gia Long đổi gọi phủ Phụng Thiên thành phủ Hoài Đức, và huyện Quảng Đức thành Vĩnh Thuận. Huyện Thọ Xương có 8 tổng, 194 phường, thôn, trại, còn huyện Vĩnh Thuận có 5 tổng, 56 phường, thôn, trại(1).

Tháng 8 năm ất Sửu (1805), lấy cớ chữ Long (Rồng) là tượng trưng cho vua, chỉ có thể dùng cho kinh sư mà thôi, Gia Long đã đổi chữ Long (trong tên Thăng Long) là Rồng thành chữ Long là Thịnh. Cũng với tinh thần đó, chữ Hoàng Thành từ nay không được dùng nữa.
 

Sứ Thanh Tề Bố Sâm sang phong Vương cho Gia Long tại Thăng Long
Tháng 8 năm Nhâm Tuất (1802), Gia Long sai Lê Quang Định làm Chánh sứ, Lê Chính Lộ và Nguyễn Gia Cát sung Giáp ất phó sứ sang nước Thanh cầu phong và xin đổi quốc hiệu là Nam Việt. Để chuẩn bị cho công việc bang giao quan trọng này, Gia Long, trước đó đã cho triệu Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Gia Phan, Phan Huy Ích đến Thăng Long vì “bọn Nhậm vốn là bầy tôi cũ của triều Lê, đã quen công việc. Huy Ích lại từng làm sứ thần của giặc (tức Tây Sơn - TG) đi sang nước Thanh, bèn hạ lệnh cho ở ngoài đề phòng hỏi đến”. (Nhực lục, Sđd, tập I, tr.505). Ngoài ra, Gia Long còn lệnh cho quan phụ trách Bắc Thành noi theo thể thức thụ phong dưới triều Lê, xây thêm điện vũ. Đặt điện Cần Chánh ở bên trong 5 cửa trước điện Kính Thiên, ngoài cửa điện Cần Chánh dựng một cái rạp dài, đằng trước đặt cửa Chu Tước và dựng nhà tiếp sứ Thanh ở bên sông Hồng.

Khoảng tháng 8 năm Quý Hợi (1803), nhà Thanh đưa thư nói sứ thần Việt Nam là Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức đã đến Yên Kinh. Vua Thanh sẽ sai Án sát sứ Quảng Tây là Tề Bố Sâm sang tuyên phong. Nhận được tin đó, Gia Long ngay lập tức khởi hành xa giá đi Bắc tuần. Tháng 10 năm ấy, Gia Long đến hành cung Thăng Long.

Tháng giêng năm Giáp Tý (1804), sứ Thanh là Án sát Quảng Tây Tề Bồ Sâm sang đến Thăng Long.
Trước đó, Gia Long sai Lê Quang Định sang xin phong và xin đổi quốc hiệu, trong thư đại lược nói: “Các đời trước mở mang côi viêm bang, mỗi ngày một rộng, bao gồm cả nước Việt Thường, Chân Lạp, dựng quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối 200 năm. Nay đã quét sạch miền Nam, vỗ yên được toàn côi Việt, nên khôi phục hiệu cũ để chính danh tốt”. Vua Thanh cho rằng chữ Nam Việt giống như Đồng Tây Việt, gợi nhớ cái thời phương Nam lớn mạnh của Triệu Đà, nên không muốn cho. Gia Long hai ba lần phục thư để biện giải, lời nói nếu vua Thanh không cho thì không chịu phong. “Vua Thanh sợ mất lòng nước ta, mới dùng chữ Việt Nam để đặt tên nước...”. (Thực lục, Sđd. tập I, tr. 580).

Lễ tuyên phong được tổ chức long trọng tại thành Thăng Long. Vào sáng sớm, Gia Long sai đặt lỗ bộ đại giá ở sân điện Kính Thiên đến cửa Chu Tước, ngoài cửa đến bên sông Hồng thì bày nghi vệ binh tượng. Lại sai Tôn Thất Cương cùng mấy viên quan nữa đến công quán Gia Quất ở bến sông để nghênh tiếp Tề Bố Sâm.

Gia Long đứng chực sẵn ở cửa Chu Tước, có hoàng thân và bá quan theo hầu. Sứ Thanh Tề Bố Sâm đến, vào điện Kính Thiên làm lễ tuyên phong. Nguyễn Văn Thành sung việc thụ sắc, Phạm Văn Nhân sung việc thụ ấn. Lễ xong, Gia Long mời Tẻ BỐ Sâm đến điện Cần Chánh, thong thả mời trà rồi lui.

Sau đó, Gia Long đặt yến Ở công quán Gia Quất, tặng biếu phẩm vật Tề Bố Sâm nhận lấy the, lụa, vải, sừng tê, kỳ nam, còn thừa đều trả lại Sau đó Bố Sâm tặng biếu phẩm vật, Gia Long sai thu nhận một vài thứ để lấy lòng sứ Thanh. Tê Bố Sâm lên đường về nước. Gia Long sai Tôn Thất Chương đưa đi một trạm, còn các quan hậu mệnh có trách nhiệm hộ tống Sâm ra tới tận cửa ải Mục Nam Quan (Lạng Sơn)

 

Theo: Lịch sử Thăng Long - Hà Nội

  Các bài đã đăng:
Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn: Xây dựng thành Thăng Long
(Theo Phương Đình địa dư (Quyển 5, tr. 2a): Năm Gia Long thứ 4 (1805) phá thành cũ (do nhà Lê xây đắp - TG) và xây lại một tòa thành mới. Thành mới này hình gân vuông, chu vi 1295 trượng (khoảng 5km?) Tường thành cao ...)
Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn: Đời sống xã hội
(Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn với hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận, gân tương đương với nội thành Hà Nội ngày nay: Thọ Xương tương đương với quận Hoàn Kiếm và quận Hai Bà Trưng, Vĩnh Thuận tương đương với quận Ba ...)
70 năm Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn
(Suốt cả thế kỷ XIX, Thăng Long không còn được giữ vai trò “chủ nhà” của các kỳ thi đại khoa như suốt 700 năm trước. )
Hà Nội kỷ nguyên độc lập: Những sự kiện lịch sử chính
(Ngày 15-8-1945, vua Nhật chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng minh. Lúc này, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội tại Tân Trào đã có chủ trương, nhưng chưa truyền đạt về kịp... )
Hà Nội kỷ nguyên độc lập, xây dựng chính quyền mới (1945 - 1946)
(Vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động liên kết với nhau, chống phá quyết liệt. Mười ngày sau khởi nghĩa tháng Tám... )
Hà Nội: Kháng chiến chống Pháp (1947 - 1954)
(Biết rõ âm mưu Chính phủ Pháp vẫn có dã tâm đô hộ Việt Nam. Đảng và Chính phủ ta đã có những chủ trương và biện pháp chuẩn bị kháng chiến. )
Hà Nội mở rộng: Một góc nhìn văn hóa
(Ngày 1.8.2008 đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử Hà Nội. Thủ đô mở rộng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (Hoà Bình). Đây là lần thay đổi địa giới lớn lần ...)
Thủ đô Hà Nội ngày nay
(Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá VI (25/4/1976) đã hoàn thành thống nhất hai miền về mặt nhà nước. Hà Nội vẫn là Thủ đô của đất nước, từ nay mang tên là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam )
Hà Nội kỷ nguyên độc lập: Giải phóng Thủ đô (10 - 10 - 1954)
(Tháng 1-1954, Hội nghị Genève được triệu tập. Ngày 20-4-1954, hội nghị bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương. Ngày 4-5, đoàn Đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do ông Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, đã đến Genève ...)
Rêu phong thành cổ đá ong hoàn chỉnh nhất Việt Nam
(Thành cổ Sơn Tây nằm giữa thị xã Sơn Tây, trên phần đất của hai làng cổ Thuần Nghệ và Mai Trai, cách trung tâm Hà Nội khoảng 42 km, vốn được xem là tòa thành đá ong hoàn chỉnh bậc nhất Việt Nam. )

 
Gửi cho bạn bè Bookmark & Share Bản để in Quay trở lại 331 lần xem
 

Gửi cho bạn bè

Email của bạn
Email người nhận
Tiêu đề
Nội dung

Thứ Tư, 08/02/2012 13:05
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
 

Hotline

04 3987 6839

09394 88 666

Văn phòng tại Hà Nội

Du lịch Nội địa

Du lịch Quốc tế

Tour ghép

Tour Inbound

Thuê xe

Vietnam Visa

Vé tàu

Air ticket

 

Văn phòng tại Tp.HCM

Du lịch Nội địa

Du lịch Quốc tế


TOUR VIỆT NAM ĐƯỢC YÊU THÍCH
Hà Nội - Hạ Long - Hà Nội 2 ngày ( Ngủ tàu Poseidon)
Hà Nội - Hạ Long - Sapa - Hà Nội (6 ngày/5 đêm)
Hà Nội - Cửa Lò - Quê Bác - Hà Nội (4 ngày/3 đêm)- Khởi hành bằng ô tô
Hà Nội - Hải Phòng - Đảo Cát Bà - Hà Nội (4 ngày/3 đêm)

TOUR NƯỚC NGOÀI YÊU THÍCH
Hà nội - Seoul - Everland - Cheju - Nami - Hà Nội (7 ngày/6 đêm)
Hà Nội - Tokyo - núi Phú Sĩ - Kyoto - Osaka - Hà Nội (7 ngày/6 đêm)
Hà Nội - Singapore - Sentosa - Hà Nội (4 ngày/3 đêm)
Hà Nội - Singapore - Malaysia - Hà Nội (7 ngày/6 đêm)
Du Lịch Thái Lan: Hà Nội - Bangkok - Pattaya - Hà Nội ( 5 ngày/4 đêm)
DỊCH VỤ DU LỊCH
Trang chủ   |  Giới thiệu   |  Hướng Dẫn Đặt Tour   |  Hỏi Đáp Du Lịch   |  TUYỂN DỤNG   |  Dự báo thời tiết   |  Danh bạ website

 

AMI TOUR ®

VĂN PHÒNG TẠI HÀ NỘI

Địa chỉ: Số 12 Hàng Chuối - Hai Bà Trưng - Hà Nội.

Điện thoại: (04) 3987 6839 * Fax: (04) 3987 6840

Hotlines: 09394 88 666 ; 0904 927 888
E.mail: booking@amitour.com.vn - info@amitour.com.vn - Website: www.amitour.com.vn

 

AMI TOUR ®

VĂN PHÒNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ: 133 Tân Sơn – Phường 15 - Quận Tân Bình – TP Hồ Chí Minh

Điện thoại: (84 -8) 3814 3811 * Fax: (84 -8) 3814 3811

Hotlines: 0904 927 888 ; 09394 88 666
E.mail: info@amitour.com.vn  - Website: www.amitour.com.vn